Kết quả 1 đến 4 của 4
Chủ đề: Bốn mươi năm chờ đợi
Threaded View
-
30-10-2012, 05:45 PM #4
Ngược với mọi mong đợi, họ bị trói chặt trong nhiệm vụ quân đội năm sau đó, lúc cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ bùng. Năm thứ ba xa nhau, Giang Tĩnh bị thuyên chuyển tạm thời đến trung tâm bình nguyên Trung quốc, nội bất xuất ngọai bất nhập. Năm thứ tư, Cao Đạt đổi đến một căn cứ không quân miền Đông Trung quốc. Địa chỉ thư từ của họ chứng minh họ là những người cốt lõi của sự cấp thiết cho tân Trung quốc đối với những nhu cầu quân sự mới.
Sự miễn cưỡng của họ khi phải xa nhau tỏ đầy ra trong hộp kỷ niệm thư từ của nhau, đồng thời cũng chứng tỏ khó khăn gia tăng cùng tột cho việc tái hợp. “Bổn phận với Đảng” đủ làm cho không biết bao dự định tan nát, lại còn ngăn trở mọi thông tin của họ nữa. Cuối thập niên ‘50, Giang Tĩnh bị điều tra về gốc gác xuất thân của gia đình, kết qủa cô bị cho vào trại nông-cải, để “cải tạo” ở một vùng nông thôn Sơn Tây. Lúc đó là lúc tầm quan trọng của nhu cầu quốc phòng xuống hàng thứ yếu, và tầm quan trọng của đấu tranh giai cấp đưa lên trên cùng. Cô mất hết tự do cá nhân, không được liên hệ với ai, cũng như không đi đâu được. Cô gần như mất trí vì thương nhớ Cao Đạt, nhưng những nông dân có nhiệm vụ quản thúc cô từ chối gíup cô. Họ không dám cữơng lệnh Mao chủ tịch nếu như họ thả Giang Tĩnh đi: Cô có thể là gián điệp, có thể sẽ tiếp xúc vơi bọn phản-cách mạng. Sau rồi cũng có đề nghị, hay là cô lấy một nông dân làm chồng, sẽ đổi được thành phần xã hội với căn cước cá nhân mới. Yêu thương Cao Đạt sâu sắc, cô không chịu.
Giang Tĩnh sống chín năm trong một ngôi làng ở Sơn Tây. Nơi bờ suối là nơi dân làng sinh họat tán gẫu, cũng là nơi nghe ngóng thông tin bên ngòai. Giang Tĩnh coi dòng suối như phương tiện duy nhất cho cô nói chuyện được với Cao Đạt. Hầu như hàng đêm, cô ngồi bên suối, im lìm chuyển những ý nghĩ của cô gửi đến Cao Đạt, tưởng tượng dòng nứơc đem tình thương cô đến với anh. Nhưng dòng suối không đem về cho cô tin tức người cô mong.
Nhiều năm sau, dân làng dần quên cô, cô đã trở thành nông dân y như họ. Chỉ có một đặc điểm nơi cô còn sót lại, là một mình cô với ngần ấy tuổi là chưa có chồng.
Cuối thập niên 1960, một nhân viên chính quyền về làng, trao cho Giang Tĩnh lệnh thu xếp ra đi. Lệnh là “nắm lấy cách mạng mà nỗ lực sản xuất”. Phong trào Bài-Xôviết bắt đầu.
Ngay khi về đơn vị, Giang Tĩnh phải chứng tỏ được hai điều. Một là, khả năng cô không thay đổi gì cả. Những năm lao tác làm cô gìa đi. Bạn đồng sự khó khăn lắm mới nhận ra cô, cũng như không tin cô còn có thể làm việc như cũ. Họ cho cô những bài tập khảo sát khả năng. Sau một tuần, họ phải chịu là trí thức xuất sắc cũ của cô không hề bị mất.
Hai là, điều này quan trọng với cô hơn cả, là cô tìm được dấu tích Cao Đạt. Bạn đồng sự, đồng học ai nấy xúc động chuyện của cô, đều tình nguyện chia nhau tìm tông tích Cao Đạt. Ba tháng sau, họ cho biết anh bị khép tội “phản động” cùng “nghi can họat động cho Quốc Dân đảng”. Họ cũng tìm được những nhà tù anh phải trải qua, nhưng chỉ có thế, còn không biết anh ở đâu bây giờ. Giang Tĩnh cũng tuyệt vọng, nhưng không chịu thua hòan tòan: Một khi không có tin chính thức khai tử anh, cô vẫn sẽ hi vọng. Đó, là điều làm cô sống.
Trong những năm của Cách mạng Văn hóa, cô may mắn hơn nhiều đồng nghiệp. Cô được thượng cấp ngầm bảo vệ vì tài năng trí tuệ của cô, họ dấu cô một chỗ khỏi thanh tra của Hồng Vệ binh nhiều lần. Cô trả ơn cho ban lãnh đạo đã chịu hiểm nguy để cứu cô, bằng cách đóng góp nhiều công trình khoa học cho họ.
Giang Tĩnh không ngừng truy tìm Cao Đạt. Cô đi từng làng, từng tỉnh mà anh đã đi qua, ngay cả đến hồ Đại Hồ, nơi họ đã nhắc tới xưa kia. Cô đến đó hai lần. Nhưng không tăm hơi gì.
Trong những năm 1980, sau thời kỳ Cải Cách Đổi Mới, người dân như tỉnh dậy sau cơn ác mộng chính trị và xã hội, đều muốn chỉnh đốn những ngược ngạo trước kia. Giang Tĩnh cũng là một trong vô số người tìm tung tích bà con thân nhân mất tích, qua điện thọai, thư từ, điều tra cá nhân. Lòng nhiệt thành của Giang Tĩnh lại bị coi là thứ yếu: Sau bao nhiêu cay đắng, tan tác, đối với họ, chuyện Cao Đạt thì là chuyện tình của cô, không phải chuyện tình của họ. Cách Mạng Văn Hóa đếm không xuể những nạn nhân tình cảm, rồi người ta thấy, chuyện ưu tiên cho những thiết thực trước mắt quan trọng hơn bất cứ chuyện tình cảm, dù xúc động thế nào đi nữa.
Khi Giang Tĩnh nhận bản danh sách những người sẽ tham dự buổi Kỷ niệm thành lập Đại Học Thanh Hoa năm 1994, bà truy cứu kỹ càng tên Cao Đạt, nhưng không tìm ra. Khi bà đi Bắc Kinh dự hội, bà đem theo hàng chục tờ in xin giúp truy tìm người thất tung, đẻ cho các cụu sinh viên giúp đỡ.
Ngày đầu tiên của lễ hội, thành viên đổ về khắp mọi nơi của Trung quốc, tụ hội trong khuôn viên Thanh Hoa. Bạn học trẻ mừng rỡ: Họ khen nhau trông không khác xưa mấy. Thế hệ gìa hơn hơi ngập ngừng, đa số bọn họ, phải đợi cho đến khi vào buồng được sắp xếp sẵn cho đồng khóa, lúc ấy may ra họ mới nhận ra nhau.
Không ai nhìn ra được Giang Tĩnh trong lúc náo nhiệt, bà cũng không nhận ra được ai. Nhân viên trực ban của Đại học đưa bà đến căn phòng dành riêng cho sinh viên cùng khóa của bà. Ngay khi ngồi xuống, Giang Tĩnh nhìn lập tức vào tấm lưng của người đàn ông ngồi trước, người đàn ông mà dù chỉ thấy tấm lưng bà cũng không bao giờ nhầm lẫn được, sau bao nhọc nhằn, gian khổ - Cao Đạt. Giang Tĩnh chấn động; bà bắt đầu run rẩy, tim đập dồn dập rồi bà bất tỉnh. Nhân viên trong ban tổ chức xuất hiện, đỡ bà dậy, lo lắng, không hiểu chuyện gì, “Hay là bà bị lên cơn đau tim?” Bà không nói được – chỉ khóat tay ra hiệu là bà không sao cả, rồi chỉ tay về phía Cao Đạt.
Bà đứng dậy, cố bứơc đi đến chỗ Cao Đạt, tim bà nặng trĩu nên bước đi rất chậm. Ngay khi bà sắp lên tiếng, bà nghe ông đang giới thiệu,”Đây là vợ tôi, Lâm Chân, đây là con gái lớn, Niệm Hoa, cháu gái thứ hai, Niệm Giang, cháu gái út, Niệm Tịnh. Vâng, vâng, chúng tôi mới tới…”
Giang Tĩnh tê liệt tòan thân.
Cao Đạt quay lại đúng lúc ấy, ông run rẩy lập tức khi nhìn thấy Giang Tĩnh. Ông há hốc. Bà vợ ông lo lắng hỏi, “Sao thế.” Ông run rẩy,”Đây…đây…là Giang Tĩnh.”
“Giang Tĩnh? Lẽ nào…” Hẳn là bà đã từng nghe tên này.
Ba người cao niên cạnh nhau cùng chấn động, cùng im lặng, cùng không biết phải làm gì. Vợ Cao Đạt ứa nước mắt nói với Giang Tĩnh, là bà chỉ lấy ông sau khi ông nghe tin Giang Tĩnh đã qua đời. Rồi bà nhóm dậy bước đi, cho Giang Tĩnh và Cao Đạt ngồi lại với nhau, nhưng Giang Tĩnh ngăn lại.
“Xin đừng…Xin đừng đi. Thời ấy chúng tôi còn trẻ, đấy là chuyện ngày xưa, còn bà đang có cả gia đình thời nay; Tôi được biết Cao Đạt hạnh phúc thì tôi càng đỡ một mối lo: Xin đừng làm gì động chạm đến gia đình này.”
Giang Tĩnh không biết có nói thật lòng không, nhưng rõ là bà thành thực.
Khi cô gái út của Cao Đạt biết Giang Tĩnh là ai, cô nói,” Tên đầu tụi con gồm 3 chữ,”Niệm Giang Tĩnh”(Nhớ Giang Tĩnh) Ba mẹ con giảng là, tên chúng con đặt ra để nhớ về bà. Cách Mạng Văn Hóa làm đời người xáo trộn cả. Bà cũng đã thấy như thế, con xin bà tha thứ cho cha mẹ con.”
Giang Tĩnh bỗng nhiên thấy bình an, đủ sức đứng lên, nắm tay vợ Cao Đạt, nói,” Cám ơn bà nhớ tôi, cám ơn bà cho ông ấy một gia đình hạnh phúc. Từ nay trở đi, tôi hạnh phúc hơn, vì tôi đỡ một mối lo. Nào, ta cùng đi tham dự liên hoan với nhau nào.”
Ai nấy đi theo Giang Tĩnh đến Khách Sảnh. Sau khi an vị, Giang Tĩnh lặng lẽ lẻn ra về khách sạn của bà, rồi ở đó bà đốt những tờ in tìm người, và cùng lúc những tờ giấy rã thành than, cũng là lúc niềm hi vọng và ý muốn duy trì đời sống nơi bà tan rã.
Vài ngày sau, bà gọi điện về nhiệm sở yêu cầu gia hạn nghỉ. Họ cho biết có một điện tín của ai đó tên Cao Tiến gửi bà, nói “khẩn”. Đó là lúc Giang Tĩnh hiểu ra, là vì Cao Đạt đổi tên, nên bấy lâu không tìm được.
Giang Tĩnh đáp xe lửa đi Đại Hồ, tính mua nhà khu đó, như dự tính của bà cùng Cao Đạt ngày xưa. Bà thấy không đủ tiền cũng như sức nữa, nên đến ở khách sạn cạnh hồ. Bà không muốn tiếp xúc với ai, chỉ sống bằng mì gói, trộn với nước nóng để đủ cho bà trầm ngâm suốt đêm suốt ngày.
Giang Tĩnh sắp kể xong chuyện đời bà. Bà yếu ớt khóat tay một vòng trước mặt.
“Bốn-mươi-lăm năm liên tục thương nhớ ông ta, nước mắt tôi có thể đọng thành vũng. Mỗi ngày tôi chờ đợi cạnh vũng nước ấy, vì nó cho tôi sự yên tĩnh và lòng yêu thương. Tôi tin người tôi thương sẽ bước ra khỏi vũng nước, sẽ ôm tôi – nhưng ông ấy ra khỏi vũng nước rồi, cạnh ông là người đàn bà khác. Bước chân họ làm tan vỡ sự yên tĩnh của mặt nước. Làn nước gợn lên, xóa mất hình ảnh phản dội của mặt trời mặt trăng – thế là tôi hết hi vọng.
“Để tiếp tục sống, tôi cần phải tẩy xóa hình ảnh Cao Đạt cùng tình cảm của tôi. Tôi mong Đại Hồ giúp tôi được, nhưng cái gì ghi dấu đã bốn-mươi-lăm năm thì rất khó tẩy.”
Tôi nghe sự trống vắng trong giọng Giang Tĩnh, chứa những buồn bã và tuyệt vọng. Không lời nào có thể an ủi được.
Toi phải trở về với con tôi là PanPan và công việc, nhưng tôi không muốn Giang Tĩnh ở một mình, tôi gọi điện hỏi bố tôi ngay tối đó, là ông có thể cùng mẹ tôi đi Ngộ Đức thăm bệnh Giang Tĩnh ít ngày được không. Họ đến ngay hôm sau. Khi tiễn tôi từ bệnh viện về, mẹ tôi bảo,”Giang Tĩnh hẳn là đẹp lắm lúc trẻ.”
Tuần sau, cha mẹ tôi về lại Nam Kinh. Cha tôi kể là, được Giang Tĩnh đồng ý, ông đã liên hệ với nhiệm sở của bà. Họ đang lo lắng cho bà, nên gửi ngay người đi Ngộ Đức thăm nom bà. Cha tôi còn bảo, không cho Giang Tĩnh biết, ông đã kể chuyện bà bằng điện thọai cho các bạn học ngày xưa. Ông gìa cộc cằn khô khan của tôi, không nén được xúc động, vừa nói vừa khóc,”Chúng ta đều biết Giang Tĩnh đau khổ dường nào, nhưng không ai hiểu nổi bề sâu tình cảm của bà.”
Cha tôi cũng tìm ra được lý do Cao Đạt đổi tên, ông cũng đã kể cho Giang Tĩnh: Một thủ lãnh Hồng Vệ binh nơi trại tù lần thứ nhì của Cao Đạt lại trùng tên với ông. Ông bị đổi tên thành Cao Tiến, tên ấy đâm ra ghi trên hết thảy sổ hộ tịch tù nhân về sau, một việc rất phi luật. Cao Tiến khiếu nại khắp nơi, chỉ được trả lời câu trả lời độc nhất,”Bao nhiêu sai lầm trong Cách Mạng rồi – Ai mà sửa cho hết mọi điều?” Sau nữa, có người báo tin cho Cao Đạt, là Giang Tĩnh đã tử nạn giao thông hai mươi năm rồi, cho nên ông để cho tên Cao Đạt chết theo.
Giang Tĩnh bảo, “đàn bà là nước, đàn ông là núi” – so sánh như thế không biết có đúng không? Tôi nêu câu hỏi trên đài, chỉ nội một tuần, nhận được trên hai trăm hồi đáp. Trong số đó, có tới mười câu góp ý lại từ chính đồng nghiệp trong Đài của tôi. Anh chàng Lý Bự trong sở tôi viết,”Đàn ông Trung quốc cần đàn bà để tạo ra hình ảnh của mình – như bóng núi in trên mặt nước. Nhưng nước lại đổ từ trên núi mà xuống. Thề thì hình ảnh mà nước in ra, là hình ảnh của núi hay của nước?”Chưa gạp êm, anh vẵng ngỡ rèng
Có nòang thíu nữ đệp như treng
Méc xanh lòa bóng dừa huơn dựa
Au ím nhìn anh không nóa neng …
Bốn mươi năm chờ đợi



Trả lời kèm Trích dẫn


Đánh dấu