Warning: Illegal string offset 'name' in [path]/includes/functions.php on line 6845
Cảm ơn Bộ GD&ĐT đã tăng lương GV gấp 2,1 lần! ( Thầy Văn Như Cương )
Close
Login to Your Account
Kết quả 1 đến 10 của 45

Hybrid View

  1. #1
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Nhu cầu dẫn đến bằng giả từ trường dỏm
    Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn - Viện Nghiên cứu Garvan

    Câu chuyện chung quanh sự việc quan chức văn hóa một tỉnh có bằng tiến sĩ nhưng không biết tiếng Anh, thực chất là bằng dỏm là một hệ quả của sự nghịch lí về chức vụ và bằng cấp ở nước ta.



    Dư luận công chúng bức xúc về trường hợp một quan chức văn hóa của một tỉnh có bằng tiến sĩ nhưng không biết tiếng Anh. Thật ra, bằng tiến sĩ của vị quan chức này là một bằng dỏm từ một cơ sở kinh doanh bằng cấp bên Mĩ, và do đó không có giá trị học thuật gì cả.

    Nghịch lí tạo nhu cầu

    Ở nước ta đang tồn tại một nghịch lí về chức vụ và bằng cấp. Theo logic thông thường và qui trình bao đời nay ở nước ta và trên thế giới, người có năng lực chuyên môn (thể hiện qua kinh nghiệm và bằng cấp) được bổ nhiệm vào các chức vụ công quyền thích hợp.

    Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta có tình trạng đi ngược lại qui trình trên: bổ nhiệm trước, rồi hợp thức hóa sau. Thật vậy, trong thực tế, đã có biết bao trường hợp người được chỉ định (hay "cơ cấu") vào các chức vụ công quyền dù chưa có bằng cấp thích hợp. Điều này dẫn đến một hệ quả là người được bổ nhiệm phải hợp thức hóa bằng cách "chạy" bằng cấp.

    Đây là một nghịch lí phổ biến ở nước ta ngày nay, nhưng rất hiếm thấy trên thế giới.

    Có thể nói rằng nhu cấp bằng cấp rất lớn ở nước ta. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển nhanh đặt ra nhu cầu cho rất nhiều vị trí công tác trong hệ thống quản lí và công quyền. Hàng năm, có lẽ có hàng vạn người được bổ nhiệm vào các chức vụ hành chính và quản lí, dù họ chưa có bằng cấp thích hợp, và dẫn đến nhu cầu bằng cấp. Trong nhiều trường hợp, việc hợp thức hóa bằng cấp được cấp trên khuyến khích và tạo điều kiện.

    Có lẽ do nhu cầu này mà hàng trăm đại học ồ ạt ra đời trong thời gian gần đây trên khắp các tỉnh thành ở nước ta. Tình trạng này dẫn đến một hệ quả có thể đoán được là chất lượng đào tạo bị suy giảm, do thiếu thầy cô và cơ sở vật chất cho giảng dạy và thực hành. Chất lượng đào tạo xuống cấp làm cho công chúng nghi ngờ tất cả những bằng cấp xuất phát từ các đại học ở Việt Nam.

    Dù muốn hay không, cũng phải ghi nhận một thực tế là người Việt chúng ta rất vọng ngoại. Tâm lí vọng ngoại nhìn người nước ngoài, nhất là người phương Tây, bằng con mắt nể phục. Từ nể phục, chúng ta xem cái gì của phương Tây hay xuất phát từ phương Tây cũng đều có giá trị hơn, có chất lượng cao hơn những gì xuất phát từ trong nước. Do đó, không ngạc nhiên khi bất cứ thời nào, những gia đình có điều kiện đều muốn gửi con em ra nước ngoài du học, lấy được một mảnh bằng với tiếng Anh hay tiếng Pháp làm chứng từ cho việc tiến thân sau này.

    Trong tình hình giáo dục Việt Nam xuống cấp thê thảm và hỗn loạn như hiện nay, không ai ngạc nhiên khi thấy một làn sóng mà có người ví von là "tị nạn giáo dục" ở nước ngoài, với hàng vạn học sinh và sinh viên từ VN đang theo học tại các trường trung học và đại học ở Mĩ, Úc, Anh, Pháp, Canada, Singapore, v.v... Các quan chức Việt Nam gửi con em ra ngoài học khá nhiều.
    Thật ra, chính các quan chức này cũng có nhu cầu kiếm một tấm bằng từ nước ngoài để làm phương tiện thăng quan tiến chức. Tiêu biểu cho tình trạng này là các quan chức ở tỉnh Phú Thọ tìm cách theo học ở Mĩ để có một học vị tiến sĩ, dù các vị này không biết tiếng Anh!
    Thông tin này làm công chúng hết sức bức xúc vì họ không ngờ ở Mĩ cũng có những trường đào tạo tiến sĩ mà nghiên cứu sinh không biết tiếng Anh!

    Nhận dạng trường dỏm

    Nhưng trong thực tế, thị trường giáo dục ở nước ngoài cũng có tình trạng vàng thau lẫn lộn. Bên cạnh những trường nổi tiếng như Harvard, Stanford, Yale, Cornell, Princeton, Columbia, v.v... cũng có hàng trăm trường xoàng xĩnh.

    Nguy hiểm hơn, bên cạnh những trường xoàng xĩnh, còn có hàng ngàn cơ sở thương mại giáo dục xuất hiện dưới danh xưng "đại học" chuyên bán bằng cấp. Đây là những "trường" dỏm, những trường mà chẳng có một tổ chức kiểm định giáo dục nào trên thế giới công nhận.

    Những cơ sở kinh doanh bằng cấp (tức trường dỏm) thường có một số đặc điểm chính sau đây:

    Thứ nhất, họ có những tên giống như trường thật. Vì để đánh lạc hướng người tìm hiểu và "lặp lờ đánh lận con đen", nên các cơ sở buôn bán bằng cấp thường lấy những tên mà đọc lên có âm tiết giống như các trường nổi tiếng. Chẳng hạn như thay vì đại học Harvard, họ nhái tên là đại học Horvard, hay đại học Harward.

    Vị quan chức tỉnh Phú Thọ cho biết ông theo học tại trường đại học Nam Thái Bình Dương. "Trường" này có tên tiếng Anh là Southern Pacific University, nhái theo tên trường thật của Fiji là University of South Pacific!

    Thứ hai, các cơ sở bán bằng cấp thường thay đổi địa chỉ rất thường xuyên. Chẳng hạn như trường "đại học Nam Thái Bình Dương" danh nghĩa là ở Hawaii (Mĩ), nhưng đăng kí thì ở... Malaysia! Trong thời đại internet, có rất nhiều "trường" chẳng có địa chỉ cụ thể, mà chỉ một website. Với công nghệ web và thông tin, họ có thể thiết kế một trang web "hoành tráng" giống y như trang web của trường đại học thật.

    Thật vậy, có thể nói rằng trang web của các doanh nghiệp bán bằng cấp còn hoành tráng hơn nhiều so với các trang web của đại học thật ở Việt Nam!

    Thứ ba, tài liệu trình bày thường sai chính tả và sai văn phạm tiếng Anh. Sự thật là những người chủ doanh nghiệp "đại học" không thạo tiếng Anh, hay xuất thân từ Phi châu. Chính vì thế mà tiếng Anh của họ có rất nhiều sai sót. Ngay cả "bằng cấp" họ cấp cũng có nhiều lỗi chính tả và văn phạm! Đương nhiên, đối với phần đông người Việt thì những lỗi này khó phát hiện.

    Thứ tư, họ thường nhấn mạnh thời gian hoàn tất học rất nhanh. Thay vì phải bỏ ra 3, 4 năm để hoàn tất chương trình cử nhân, các cơ sở này quảng cáo rằng chương trình cử nhân chỉ cần... 7 ngày. Ngay cả tiến sĩ cũng chỉ cần... 1 tháng!

    Bằng cấp của họ cũng rất mù mờ, không có gì là cụ thể. Thay vì gọi "cử nhân kinh tế", họ cố tình đổi thành "Cử nhân kinh tế quản trị kinh doanh" - một ngành học chẳng ai biết có ý nghĩa gì! Cố nhiên, vì đây là doanh nghiệp mua bán, nên không có vấn đề tiêu chuẩn về đầu vào và đầu ra. Bất cứ ai cũng có thể "ghi danh" theo học, miễn là có khả năng trả tiền.

    Thứ năm, những "trường" dỏm này không có giáo sư, không có giảng đường, và cũng không có chương trình học. Điều này thì ai cũng có thể hiểu được, bởi vì trong thực tế, những cơ sở kinh doanh này thực chất chỉ là một nhà để xe (garage) hay một khu nho nhỏ trong phòng ngủ hay phòng khách cũng đủ để thiết lập một "đại học" dỏm.

    Thời đại internet là cơ hội lí tưởng để các "đại học" dỏm này sinh sôi nảy nở. Những cơ sở thương mại này cũng chẳng khác gì những doanh nghiệp làm đồng hồ dỏm. Tức là cơ sở thương mại có đăng kí tên doanh nghiệp đàng hoàng, và hàng hóa của họ là bằng cấp.

    Cũng như đồng hồ dỏm, bằng cấp dỏm của họ rất giống bằng cấp thật. Họ bán những bằng cấp từ cấp cử nhân, thạc sĩ, đến tiến sĩ, với những cái giá khác nhau. Bằng cấp càng cao, giá càng cao. Một bằng tiến sĩ có khi giá khoảng 5000 USD. Là cơ sở thương mại, nên họ cũng cạnh tranh, và trong khi cạnh tranh, họ cũng... giảm giá (discount)!

    Cố nhiên, bằng cấp của họ không được ai công nhận. Khách hàng của họ thường là những người nhẹ dạ từ các nước thiếu thông tin và kém tiếng Anh như nước ta.
    Học tiến sĩ ở Mĩ nhưng không biết tiếng Anh

    Trong thực tế, đã có không ít người ở nước ta là nạn nhân của các cơ sở bán bằng cấp. Hai hôm nay, dự luận công chúng bức xúc về một số trường hợp giám đốc sở văn hóa tỉnh Phú Thọ lấy học vị tiến sĩ ở Mĩ nhưng không biết tiếng Anh. Vị quan chức này cho biết ông theo học tại trường "Đại học Nam Thái Bình Dương của Hoa Kỳ". Tuy nhiên, tôi e rằng vị quan chức đó là nạn nhân của một cú lường gạt.

    Qua tìm hiểu, tôi được biết trường này có tên là Southern Pacific University (tên pháp lí là Southern Pacific University, Inc, a Hawaii corporation). "Trường" có hẳn một website khá hoành tráng. Tuy nhiên, theo tài liệu của Bộ Thương mại và Tiêu thụ vụ (Department of Commerce and Consumer Affairs) thì "trường" đã bị giải thể từ ngày 28/10/2003 (nguyên văn: "Although incorporated in Hawaii, SPU was based in Malaysia. SPU's Hawaii corporation was dissolved on October 28, 2003.")

    Đây là một trường dỏm, và đã được đưa vào danh sách các trường dỏm. Trường này thậm chí còn được liệt kê vào danh sách scam, tức là những nơi chuyên lừa gạt người nhẹ dạ để lấy tiền bằng cách bán bằng cấp dỏm. Bằng cấp của trường Southern Pacific University không được các cơ quan kiểm định giáo dục của Mĩ công nhận.

    Nói tóm lại, tôi nghĩ vị quan chức này đã bị lừa gạt và chắc tốn nhiều tiền để có cái giấy tiến sĩ đó. Tờ giấy gọi là tiến sĩ đó chỉ là chứng từ của một sự lường gạt, chứ không phải là một học vị gì cả.

    Kinh doanh giáo dục không chỉ giới hạn trong việc buôn bán bằng dỏm, mà còn bao gồm buôn bán chức danh dỏm. Những chức danh hay danh xưng như "danh nhân thế giới" (Who is Who in the World), bộ óc vĩ đại, viện sĩ hàn lâm, v.v... đều có thể mua từ các nhóm kinh doanh qua mạng, thậm chí qua các tổ chức mà đọc qua tên thì có vẻ như thật. Vấn đề trở nên phức tạp khi phân biệt giữa tổ chức thật và giả.

    Chẳng hạn như Viện hàn lâm khoa học New York là một tổ chức khoa học thật sự, nhưng cách họ cấp bằng "viện sĩ" thì không nên hiểu là viện sĩ mà chỉ là hội viên. Khoảng 6 năm trước đây, người viết bài này đã giải thích những khác biệt đó, nhưng rất tiếc là mãi đến nay vẫn còn nhiều người ở Việt Nam bị sa đà vào cái bẫy danh xưng và tốn tiền một cách không cần thiết.

    Điều đáng nói là có cơ quan Nhà nước khuyến khích, chi tiền để nhân viên mình có được những danh xưng dỏm, những học vị dỏm đó! Trong tình trạng vàng thau lẫn lộn như hiện nay ở Việt Nam, những danh xưng tiến sĩ hay giáo sư, nhất là trong giới quan chức, càng ngày càng trở thành chuyện tiếu lâm dân gian. Nhưng nghiêm chỉnh và bình tâm mà nói, phải gọi đó là một quốc nạn giáo dục.

    Trong khoa bảng, không có phương cách gọi là "đi tắt đón đầu". Tri thức tích lũy theo thời gian chứ không thể nào một sớm một chiều mà có được. Tất cả những học vị khoa bảng hay bằng cấp nói chung là một chứng nhận về một quá trình học tập để tiếp thu kiến thức trong một thời gian dài, có khi rất dài và rất gian nan.
    Tiến sĩ là một học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục hiện đại, và người có học vị này được công chúng phương Tây kính cẩn gọi là "Doctor". Người có văn bằng đó phải trải qua một quá trình học và nghiên cứu với những thành quả được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận. Điều cốt lõi và cũng là đặc điểm để phân loại bằng tiến sĩ với các bằng cấp khác là nghiên cứu. Không có nghiên cứu khoa học thì không thể là tiến sĩ được.

    Do đó, văn bằng tiến sĩ thích hợp và giá trị cao nhất trong khoa bảng và nghiên cứu khoa học, chứ không phải trong hệ thống công quyền và quản lí hành chính.

    Bằng tiến sĩ càng không phải là món hàng để người ta mua làm vật trang sức hay làm phương tiện để thăng quan tiến chức.

    So với các nước trong vùng, nước ta có nhiều tiến sĩ và giáo sư. Tính đến nay, Việt Nam đã phong hàm giáo sư và phó giáo sư cho hơn 8300 người. Con số tiến sĩ còn cao gấp 4 lần con số giáo sư. Chúng ta không biết bao nhiêu tiến sĩ ở Việt Nam được cấp bởi những "trường" dỏm, nhưng chúng ta có thể nói rằng những tiến sĩ dỏm này làm cho năng suất khoa học Việt Nam thấp hơn các nước trong vùng.

    Thật vậy, hàng năm Việt Nam chỉ công bố được khoảng 1000 công trình khoa học trên các tập san quốc tế, tức chỉ bằng khoảng 1/5 Thái Lan và 1/10 Singapore. Lí do đơn giản là vì Việt Nam có nhiều giáo sư và tiến sĩ không làm việc trong khoa học, mà chỉ làm quản lí và hành chính. Rất nhiều các quan chức trong các bộ của chính phủ đều có bằng tiến sĩ. Phân nửa những bộ trưởng VN có bằng tiến sĩ. Nhưng trớ trêu thay, chỉ có khoảng ~20% giảng viên trong các đại học lớn ở VN có văn bằng tiến sĩ! Đó là một nghịch lí.

    Đã đến lúc phải phục hồi qui trình tuyển dụng quan chức theo logic thông thường: dựa vào kinh nghiệm và bằng cấp đã có, chứ không nên "cơ cấu" xong rồi mới hợp thức hóa sau. Đã đến lúc phải nhận thức rằng văn bằng tiến sĩ là để nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học, chứ không phải là một chứng chỉ để thăng quan tiến chức.

  2. #2
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Thi tuyển sinh vào lớp 10: Bỏ được không?
    Nhiều năm nay, học sinh THCS đã không còn phải thi tốt nghiệp. Tuy nhiên, tại một số thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ, vì áp lực trường lớp, học sinh đã phải dốc sức cho kỳ thi vào lớp 10.

    Kỳ thi trở thành nỗi ám ảnh của phụ huynh và học sinh khi phải vừa dốc sức ôn thi vừa căng đầu tính toán nguyện vọng...

    Với góc nhìn của người trong cuộc, các nhà quản lý, lãnh đạo của ngành giáo dục đã lên tiếng lý giải về sự cần thiết và khả năng bỏ kỳ thi này
    Đủ trường lớp sẽ bỏ thi!
    Ngành giáo dục TP.HCM xây dựng động cơ học tập của học sinh là học để biết, để trưởng thành, để phục vụ chứ không phải học để đối phó với thi cử. Hiện nay một số quận, huyện của TP đã thực hiện xét tuyển. Các quận, huyện còn lại vì áp lực học sinh đông, không đủ chỗ học nên nhất thiết phải thi tuyển mới công bằng, khách quan. Sở GD&ĐT tổ chức kỳ thi tuyển sinh lớp 10 ngay sau khi kết thúc chương trình học THCS một tháng nhằm rút ngắn thời gian để các em không phải đi luyện thi, chỉ tự ôn tập ở nhà. Thi tuyển sinh lớp 10 thực ra là để sắp xếp lại chỗ học cho các em, trên cơ sở đó lựa chọn học sinh ưu tú, có năng khiếu vào các trường danh tiếng.

    Để giảm áp lực thi cử, Sở đã tham mưu với lãnh đạo thành phố xây dựng trường lớp, thúc đẩy thực hiện quy hoạch trường lớp để đảm bảo đủ chỗ học cho con em nhân dân. Khi trường lớp đã đủ chỗ cho học sinh vào học thì không cần tổ chức thi nữa.

    TS HUỲNH CÔNG MINH, Giám đốc Sở GD&ĐT TP.HCM


    Cần có hệ thống trường nghề hiệu quả!
    Hiện nay, học sinh học xong THCS là phải cố thi đậu vào lớp 10 công lập. Dân ta còn nghèo, con cái không đậu trường công thì lấy tiền đâu mà học trường dân lập, tư thục. Ở lứa tuổi 14-15, nếu các em thi rớt, không vào được lớp 10 mà học nghề cũng không xong thì các em dễ bị khủng hoảng tâm lý, tệ nạn xã hội rình rập. Hơn nữa, có một nghịch lý là chúng ta đang chủ trương phổ cập THPT, tức là tạo điều kiện cho rất nhiều học sinh học hết THPT, vậy mà chúng ta tổ chức thi tuyển, kỳ thi chẳng khác gì tạo ra một rào chắn.
    Ở Pháp, hệ thống trường nghề đầu tư rất bài bản, trang bị thiết bị dạy nghề cũ, mới đều có. Học sinh được tiếp cận, học cách sử dụng và làm chủ thiết bị rất tốt, không bao giờ lo chuyện thất nghiệp. Học sinh của họ được doanh nghiệp đặt hàng ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Năm 1996, tôi có dịp đến một trường dạy nghề của Pháp. Tôi hỏi một học sinh ở đây: “Tại sao cháu không học tiếp THPT?”, cậu ta trả lời rằng: “Nếu học tiếp THPT thì trong ba năm đó bố mẹ phải lo. Bởi vậy cháu chọn học trung học chuyên nghiệp, chỉ sau ba năm cháu có một nghề trong tay, tự kiếm tiền nuôi sống mình rồi đăng ký học lên ĐH”.

    Chúng ta chưa hệ thống đào tạo nghề có uy tín và chất lượng để thu hút học sinh. Tầm nhìn giáo dục của chúng ta rất dở. Chúng ta hay tuyên truyền việc cha đạp xích lô, mẹ bán vé số, làm thuê làm mướn đủ kiểu để nuôi con học tới nơi tới chốn. Nhưng dân ta còn nghèo lắm, không phải ai cũng đủ sức lo cho con đi học. Nếu chúng ta có hệ thống trường nghề chuẩn như các nước thì tôi tin chắc các học sinh nghèo, hoàn cảnh khó khăn sẽ không học tiếp THPT mà sẽ chọn con đường học nghề. Lúc ấy, trường THPT sẽ… trống chỗ, việc thi tuyển sinh lớp 10 sẽ không còn!

    Ông NGUYỄN HỮU DANH, Phó Chủ tịch Hội Cựu giáo chức TP.HCM, nguyên Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong



    Học bạ có đáng tin?
    Theo quy định hiện nay, học sinh vào lớp 10 chỉ cần thi hai môn văn, toán và kèm bảng điểm trong bốn năm học cấp hai. Chính vì vậy, phần lớn học sinh chỉ tập trung ôn hai môn văn, toán và bỏ bê các môn khác. Khi nhận học sinh vào trường, tôi thấy các em học các môn khác rất đại khái, kiến thức thì hổng nhiều, nhất là môn khối tự nhiên lý, hóa. Nếu bỏ kỳ thi này ngay thì thật sự nguy hiểm. Đặc biệt, với căn bệnh thành tích tràn lan như hiện nay thì ai dám chắc chỉ cần điểm học bạ cũng đảm bảo đánh giá chính xác chất lượng học sinh.

    Để giảm áp lực thi cử thì ngành giáo dục phải khắc phục hình thức đào tạo kiểu “đầu voi, đuôi chuột” và đào tạo cho học sinh theo kiểu “nước rút”, tất cả dồn vào những năm cuối cấp. Tôi đề nghị nếu không thi vào lớp 10 thì bắt buộc phải thay thế bằng hình thức tuyển chọn nào đó để đánh giá chất lượng của học sinh trong cả quá trình học tập. Đồng thời phải thống nhất việc xét tuyển học bạ và thi vào lớp 10 tại nhiều vùng, địa phương. Chứ kiểu nơi có xét, nơi không; miền Bắc thi hai môn, miền Nam thi ba môn như hiện nay thì sẽ khó đảm bảo chất lượng một cách đồng đều
    GS VĂN NHƯ CƯƠNG, Hiệu trưởng Trường dân lập Lương Thế Vinh, Hà Nội



    Căng thẳng và mệt mỏi

    Chị Huyền Nga, phóng viên một tờ báo thường trú tại TP.HCM, đang có con dự thi vào lớp 10 chia sẻ: “Thấy con trai ôn tập mệt mỏi trong vòng một tháng mà sốt ruột! Cháu học đêm học ngày, lại cứ mang tâm lý nơm nớp sợ thi rớt. Tôi phải tìm mọi cách để cân bằng tâm lý, sức khỏe cho cháu. Cũng may, giờ thì áp lực căng thẳng và vẻ mệt mỏi của cháu đã giãn ra khi cả ba môn cháu đều làm bài rất tốt”... Không chỉ chị Huyền Nga lo lắng mà hàng chục ngàn phụ huynh có con dự thi trong kỳ thi này cũng có cùng tâm trạng trên.

    Hiện nay, các TP lớn luôn bị sức ép tăng dân số, trường lớp xây mới nhiều nhưng vẫn thiếu chỗ học. Bởi vậy học sinh muốn vào học hệ công lập (học phí thấp, có uy tín) không còn cách nào khác là phải tham gia thi tuyển. Với tỉ lệ đậu vào lớp 10 công lập ở TP.HCM khoảng 85%, Cần Thơ 75%-80%, Hà Nội khoảng 70%... nên học sinh nào cũng dốc hết sức để vượt qua kỳ thi. Chưa hết, phụ huynh cũng khổ sở không kém khi phải cùng con mình chiến đấu với bài toán lựa chọn nguyện vọng. Và thực tế, nhiều năm qua, không ít học sinh giỏi không vào được lớp 10 công lập vì tính toán sai nguyện vọng.

    Liệu có nên duy trì một kỳ thi mà chỉ có một ý nghĩa duy nhất là để sắp xếp chỗ học?


    QUỐC VIỆT - TỐ NHƯ
    Ngày 17-7, các trường ở TP.HCM công bố điểm chuẩn

    Chiều 22-6, tại TP.HCM, thí sinh dự thi vào lớp 10 thường và lớp 10 chuyên đã hoàn tất các môn thi. Ông Lê Hồng Sơn, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TP.HCM, cho biết: Kỳ thi kết thúc an toàn, nghiêm túc, không có thí sinh, giám thị vi phạm quy chế. Tổng cộng có 517 thí sinh bỏ thi không lý do.

    Theo ông Sơn, dự kiến ngày 17-7, các trường sẽ công bố điểm chuẩn. Ngày 22-7, thí sinh nộp đơn xin phúc khảo nếu có khiếu nại về điểm thi. Điều kiện phúc khảo là thí sinh có điểm thi thấp hơn điểm trung bình của môn đó ở năm học lớp 9 là 1 điểm.

    Cùng ngày, hơn 13.000 học sinh Đà Nẵng cũng kết thúc kỳ thi tuyển sinh lớp 10. Mục tiêu chọn trường của những thí sinh khá, giỏi năm nay vẫn là hai trường THPT chuyên Lê Quý Đôn và THPT Phan Châu Trinh. Theo đó, Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn sẽ tiếp tục tổ chức thi tuyển vào trường trong ba ngày 24, 25 và 26-6.

    Ông Nguyễn Hiệp Thống, Chánh văn phòng Sở GD&ĐT TP Hà Nội, cho biết kết thúc hai môn thi văn, toán, có hơn 800 học sinh vắng mặt không rõ lý do. Theo đánh giá nhanh của các giám thị, không có vụ vi phạm quy chế nào xảy ra. Hôm nay (23-6), khoảng 9.000 thí sinh thi môn chuyên sẽ thi thêm môn ngoại ngữ và ngày 24-6, thi môn chuyên.

    QV - LP – TN

  3. #3
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia xây dựng xã hội học tập
    Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định 927/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạo quốc gia xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2011-2020. Ban chỉ đạo có 22 thành viên do Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân làm Trưởng ban.



    3 Phó Trưởng ban gồm Thứ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào tạo (Phó Trưởng Ban thường trực), Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam.

    Các ủy viên Ban chỉ đạo gồm lãnh đạo một số Bộ, ngành liên quan.Ban chỉ đạo có Tổ thư ký do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định.

    Ban chỉ đạo có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ về phương hướng, cơ chế, chính sách và các giải pháp xây dựng xã hội học tập.

    Ban chỉ đạo cũng giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều phối hoạt động giữa các Bộ, ngành, các địa phương và các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc triển khai thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về xây dựng xã hội học tập; kiểm tra, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo, có nhiệm vụ bảo đảm các điều kiện hoạt động của Ban chỉ đạo này.

    Theo Chí Kiên (Chinhphu.vn)

  4. #4
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Nỏ thần giả và bằng Tiến sĩ dỏm
    Tác giả: Hiệu Minh
    Chuyện bằng cấp dỏm thời nay có khác chi lẫy nỏ giả của Triệu Đà cách đây mấy ngàn năm. Sự dối trá đã len lỏi vào xã hội, vào giáo dục, vào y đức, vào quan trí, dân trí và được một số người chấp nhận như một việc bình thường...



    Bằng dỏm ở trường giả mang danh quốc tế

    Hơn 20 năm trước, tôi có người đồng nghiệp được mời sang giảng dạy bên AIT (Thái Lan) nhưng tiếng Anh hơi yếu. Khi hỏi, với ngoại ngữ yếu thì có mệt không, anh thản nhiên đùa "Chỉ có sinh viên nghe giảng mới mệt. Còn mình chả thấy vấn đề gì".

    Mấy anh lái xe cho văn phòng nước ngoài, vốn tập tọe tiếng Anh, kể vui rằng "Cha nội Chris Shaw gốc UK chính hiệu mà tiếng Anh rất...yếu. Lão ấy chả hiểu bọn em nói gì".

    Trong bối cảnh hội nhập, một lái xe và một giáo sư "tự tin"như thế là đáng khâm phục. Ít ra còn biết chút ngoại ngữ để mang chuông đi đánh nước người.

    Tuy nhiên, chuyện một vị cán bộ của ta sang Mỹ bảo vệ Tiến sỹ bằng tiếng Việt, rồi trong lúc làm luận án bên đó mà không cần biết tiếng Anh mới đáng khâm phục hơn cả, đáng ghi vào kỷ lục thế giới.

    Theo Sài Gòn Tiếp Thị đưa tin, dân chúng tỉnh Phú Thọ đang bàn về chuyện ông Giám đốc sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch của tỉnh, có học vị tiến sĩ với đề tài "Vấn đề di sản văn hóa với việc phát triển kinh tế du lịch tỉnh Phú Thọ".

    Khi được hỏi, ông nói có sang trường đại học này để học hai đợt, mỗi đợt một tuần, được nghe giảng tiếng Anh qua phiên dịch sang tiếng Việt. Khi ông bảo vệ luận án cũng có người dịch cho từ đầu đến cuối. Đại loại vị "tiến sĩ" này thuộc dạng một từ tiếng Anh bẻ đôi không biết.

    Đương nhiên còn nhiều chi tiết khá thú vị không tiện bàn ở đây như, vị tiến sỹ này tự học, đọc tài liệu của trường đại học Nam Thái Bình Dương soạn bằng tiếng Việt và đĩa CD. Trường đại học này cũng không yêu cầu nghiên cứu sinh phải biết tiếng Anh, không phải thi đầu vào mà chỉ cần gửi đề cương sang cho họ...chỉnh sửa là được.

    Một giáo sư có uy tín với nhiều năm công tác ở nước ngoài, đã tìm hiểu kỹ về trường ĐH Nam Thái Bình Dương và đi đến kết luận, bằng "tiến sỹ dỏm này được lấy từ trường giả".

    Trong bối cảnh ở nước ta bằng giả nhiều như đất thì chuyện trên của vị "tiến sỹ" nọ không có gì lạ. Lấy bằng dỏm ở trường giả mang danh Quốc tế cũng chẳng đáng ngạc nhiên. Thật lòng, chuyện ấy ở quốc gia nào cũng có.

    Chỉ có điều vị "tiến sỹ" nọ có thể giải thích với dư luận một cách đàng hoàng mới là chuyện lạ. Vị cán bộ này làm tới chức Giám đốc sở Văn hóa của tỉnh. Bỗng tôi ước, giá như ông có được sự "tự tin" về ngoại ngữ của vị giáo sư hay mấy bạn lái xe yếu tiếng Anh kể trên. Một chút thế thôi cũng là mừng lắm.

    Bằng dỏm hay nỏ thần giả
    Phú Thọ là vùng đất tổ cội nguồn, nơi đây các vua Hùng đã dựng nước. Miền đất này vốn giàu có về lịch sử, truyền thống và di sản văn hóa.

    Cách đây gần 6 thập kỷ, cụ Hồ về thăm Đền Hùng, gặp mặt và giao nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong trước khi về tiếp quản Thủ đô, từng căn dặn: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

    Giữ nước có nhiều cách. Xây dựng quốc gia hùng cường, mạnh về kinh tế và quân sự, dân trí và quan trí cao, gồm cả sức mạnh cứng và mềm, trong đó lấy văn hóa làm gốc cho phát triển. Gìn giữ, kế thừa và phát triển văn hóa là chìa khóa cho tương lai của một đất nước.

    Vì thế, quản lý văn hóa tại một nơi gọi là cái nôi sinh ra dân tộc Việt, cần một người đủ tâm, đủ tầm, đủ lượng tri thức cần thiết, nhưng không nhất thiết phải là... tiến sỹ.

    Thủa trước, người ta thường bàn tới những vị quan "nhân-nghĩa-lễ-trí-tín". Có trí mà không có tín cũng hỏng. Làm quan mà không có trí, không có tín lại càng hỏng.

    Dưới danh tiến sỹ dỏm của một trường giả để làm quan thì hỏi rằng ai có thể tin thành Cổ Loa được bảo vệ bởi một bàn tay tin cậy?

    Những lễ hội gần đây đã chứng minh rằng, chuyện bằng rởm đã được tái hiện lại trong những lễ hội được gọi là văn hóa, truyền thống hay lịch sử. Bánh chưng dâng vua bằng nệm mút. Cướp hoa trong lễ hội hoa. Rồi lễ hội xin ấn, chai rượu to, mâm cao, cỗ đầy chẳng phải để nhớ người xưa mà chỉ mong được làm quan. Lễ hội rất lớn nhưng chứa đựng toàn những điều không thật, phản ánh thực trạng quan trí nước nhà.

    Viết tới đây, tôi chợt nhớ chuyện Mỵ Châu Trọng Thủy. An Dương Vương có chiếc nỏ thần mà bảo vệ được thành Cổ Loa trước giặc Triệu Đà vì thần Kim Qui cho chiếc lẫy nỏ là móng của mình. Nỏ này bắn một phát diệt hàng vạn tên địch. Địch không thể chiếm được thành.

    Trọng Thủy là con Triệu Đà sang nước Nam tìm cách yêu Mỵ Châu và đổi được chiếc lẫy nỏ thật bằng một chiếc dỏm. An Dương Vương đã mất thành, mất nước. Ngày nay vẫn còn giếng Mỵ Châu - Trọng Thủy để người đời sau nhớ về bài học nỏ thần đắt giá.

    Chuyện bằng cấp dỏm thời nay có khác chi lẫy nỏ giả của Triệu Đà cách đây mấy ngàn năm. Sự dối trá đã len lỏi vào xã hội, vào giáo dục, vào y đức, vào quan trí, dân trí và được mọi người chấp nhận như một việc bình thường. Niềm tin đôi khi lại được đặt vào sự giả dối.

    Một lúc nào đó, chúng ta chợt nhận ra, di sản văn hóa được xây nên bởi những lâu đài tri thức không có thật mà sự bắt đầu chính là những tấm bằng tiến sỹ giả giúp cho đường quan lộ hanh thông. Sự suy vong của một quốc gia đôi khi cũng từ những lẫy nỏ "tiến sỹ dỏm" đó.

    Lời cụ Hồ năm xưa dặn ai còn nhớ. Nếu quên lời cố nhân và không nhớ bài học lẫy nỏ bị làm rởm từ mấy nghìn năm trước, rất có thể, một ngày nào đó không còn cả cái giếng Mỵ Châu rửa ngọc trai làm bài học cho đời sau.

  5. #5
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Nhận diện địa phương "học giỏi" nhất
    Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
    Nếu lấy ngưỡng 70% là tín hiệu của “bệnh thành tích” thì có thể nói rằng hầu hết các tỉnh thành đều có triệu chứng này không phải chỉ năm 2010 mà trong 4 năm qua..


    Một trong những câu hỏi mà có lẽ công chúng muốn biết là trong số 63 tỉnh thành, địa phương nào có tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) cao nhất? Đây cũng là một câu hỏi chiếm khá nhiều thời lượng suy nghĩ của tôi. Nhận diện những địa phương có thành tích tốt (và những địa phương có kết quả kém) có thể dẫn đến những nghiên cứu chuyên sâu tìm hiểu căn nguyên và yếu tố liên quan, từ đó tìm biện pháp giảm những khoảng cách về chất lượng GD giữa các địa phương, là điều cần thiết.

    Dễ mà không đơn giản!

    Có lẽ đối với nhiều người, câu trả lời quá đơn giản: Chỉ cần tìm tỉ lệ tốt nghiệp THPT của một năm nào đó (như năm 2010 chẳng hạn), sắp xếp tỉ lệ tốt nghiệp từ cao xuống thấp, và nhận diện địa phương có tỉ lệ tốt nghiệp cao nhất. Thật ra, đây cũng chính là phương pháp mà các quan chức trong Bộ GD và ĐT từng làm. Phương pháp này có lợi thế là đơn giản, dễ hiểu, ai làm cũng được, kể cả học sinh tiểu học cũng có thể dùng máy vi tính để xếp hạng.

    Nhưng phương pháp đơn giản đó có ít nhất là 2 khiếm khuyết lớn: Chưa tính đến độ dao động trong từng địa phương qua các năm, và chưa điều chỉnh cho hiện tượng "hồi qui" (sẽ giải thích dưới đây). Để thấy sai lầm của phương pháp đơn giản đó, chúng ta có thể xem qua Biều đồ 1 dưới đây.

    Đặc điểm quan trọng nhất của biểu đồ này là tỉ lệ tốt nghiệp dao động rất lớn trong mỗi địa phương. Chẳng hạn như tỉnh Sơn La (ID số 63, ô bên góc phải, dòng đầu tiên) có tỉ lệ tốt nghiệp tăng và giảm một cách vừa liên tục vừa bất thường; nhưng trong cùng thời gian có những địa phương (như TP Hồ Chí Minh, ID số 1, ô đầu tiên góc trái của dòng cuối cùng) thì không có khác biệt gì đáng kể giữa các năm.

    Điểm thứ hai là trong mỗi năm, tỉ lệ tốt nghiệp rất khác biệt giữa các địa phương. Thật ra, phân tích kĩ cho thấy phương sai của tỉ lệ tốt nghiệp trong mỗi địa phương cao gấp 7 lần phương sai giữa các địa phương! Những sự thật này nói lên rằng không thể sử dụng số liệu của một năm để đánh giá và so sánh tỉ lệ tốt nghiệp THPT.
    Số trung bình đơn thuần không thể dùng để xếp hạng. Một cách khác để thấy khiếm khuyết của phương pháp xếp hạng dựa vào số trung bình có thể xem qua số liệu thực tế về tỉ lệ tốt nghiệp THPT của 2 tỉnh Quảng Nam và Phú Thọ trong 4 năm 2007 - 2010:
    Tỉ lệ tốt nghiệp (trung bình) của Quảng Nam là 77.7%, và Phú Thọ là 77.8%. Nhìn vào bảng trên, chúng ta có thể kết luận rằng Phú Thọ tương đương, "học giỏi" như nhau? Cố nhiên là không. Bởi vì nếu nhìn kĩ, chúng ta sẽ thấy độ dao động của Phú Thọ cao hơn Quảng Nam. Thật vậy, phương sai của tỉnh Phú Thọ là 456, còn của Quảng Nam là 212.

    Nói cách khác, tuy hai tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp tương đương, nhưng tỉ lệ của Quảng Nam đáng tin cậy (hiểu theo nghĩa dao động ít hơn) Phú Thọ. Do đó, không thể xếp hạng bằng cách đơn giản dựa vào tỉ lệ trung bình, và càng không thể dựa vào tỉ lệ tốt nghiệp của một năm, bởi vì độ dao động khá lớn giữa các năm trong một địa phương.

    Một khía cạnh khác cũng có phần phức tạp hơn là mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng tỉ lệ tốt nghiệp và tỉ lệ tốt nghiệp năm 2007 (năm đầu khi Phó TT Nguyễn Thiện Nhân bắt đầu phong trào "Hai không"). Tính trung bình cho cả nước, tỉ lệ tốt nghiệp THPT tăng 9% mỗi năm (tôi gọi đó là "tốc độ tăng trường"). Nhưng không phải tỉnh thành nào cũng có cùng tốc độ tăng trưởng, mà tốc độ này dao động từ dưới 0 đến 25% mỗi năm!

    Điều quan trọng hơn là tốc độ tăng trưởng có liên quan nghịch đảo với tỉ lệ tốt nghiệp năm 2007 (xem Biểu đồ 2 dưới đây). Theo biểu đồ này, những tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp thấp trong năm 2007 thì trong những năm sau tỉ lệ tốt nghiệp tăng rất nhanh. Ngược lại, những tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp cao (như TPHCM, Nam Định) thì tốc độ tăng trưởng khá chậm.

    Đây còn gọi là hiện tượng "regression toward the mean effect", tức là ảnh hưởng hồi qui trung bình. Một "triệu chứng" của hiện tượng hồi qui trung bình này là các địa phương có tỉ lệ tốt nghiệp quá thấp thường biến chuyển tăng dần gần tỉ lệ trung bình của cả nước, và những tỉnh khởi đầu với tỉ lệ quá cao có xu hướng giảm trong thời gian sau đó. Trong thực tế, chúng ta thấy hiện tượng này ở rất nhiều tỉnh thành trong thời gian qua. Đây là một đặc điểm quan trọng, vì nó gợi ý rằng phương pháp phân tích đơn giản không thể giải quyết được vấn đề phương sai.

    Phương pháp khách quan hơn

    Do đó, phương pháp xếp hạng khách quan phải dựa vào hai chỉ số: Trung bình và phương sai. Một phương pháp xếp hạng dựa vào 2 chỉ số đó là mô hình mà giới thống kê học gọi là Empirical Bayes (EB), có lẽ tạm dịch là "Phương pháp Bayes thực tế" (nghe ngô nghê quá, nhưng ai hay chữ hơn, xin góp ý).

    Thật ra, đây là phương pháp mà giới nghiên cứu về chất lượng GD và xếp hạng trường học thường hay sử dụng và kết quả rất thành công. Nhưng trong thực tế, chúng ta có đến 63 địa phương. Do đó, chúng ta có 63 giá trị thật, và 63 sai số. Chúng ta giả định rằng tập hợp các tỉ lệ thật tuân theo luật phân phối chuẩn với trung bình là m và phương sai là u, và tập hợp các sai số tuân theo luật phân phối chuẩn với trung bình 0 và phương sai v. Tôi dùng số liệu về tỉ lệ tốt nghiệp THPT của 63 tỉnh thành từ năm 2006 đến 2010 để ước tính các thông số m và u.

    Theo phương pháp EB, tỉ lệ thật của một địa phương chính là một trọng số trung bình (weighted average) giữa tỉ lệ của địa phương đó và tỉ lệ toàn quốc, với trọng số là số đảo của phương sai của địa phương và phương sai của quần thể.

    Theo cách tính này, những địa phương nào có phương sai cao (tức mức độ biến chuyển về tỉ lệ tốt nghiệp qua các năm) sẽ bị "phạt", vì tỉ lệ trung bình kém tin cậy so với những địa phương có phương sai thấp. Chẳng hạn như trong ví dụ trên, tỉ lệ của tỉnh Quảng Nam có độ tin cậy cao hơn tỉ lệ của tỉnh Phú Thọ, mặc dù 2 tỉnh có tỉ lệ tốt nghiệp trung bình tương đương nhau.

    Như vậy, mỗi địa phương sẽ có 2 thông số: Tỉ lệ trung bình về lâu về dài (tỉ lệ "thật") và phương sai sau khi đã điều chỉnh cho hiện tượng hồi qui trung bình và độ dao động trong mỗi địa phương. Vấn đề kế tiếp là tìm một ngưỡng để xác định thứ hạng. Bởi vì tỉ lệ tốt nghiệp toàn quốc năm 2010 là 90%, nên tôi chọn ngưỡng 90% để so sánh tỉ lệ thật của một địa phương với "ngưỡng chuẩn" đó.

    Gọi Ti là tỉ lệ "thật" của địa phương, và Wi là phương sai, tôi có thể tính một chỉ số (tạm gọi là Z90) như sau: Z90 = (Ti - 90) / sqrt(Wi). Chú ý kí hiệu "sqrt" là căn số bậc 2 (và căn số bậc 2 của phương sai là độ lệch chuẩn). Nói cách khác, công thức trên ước tính khoảng cách về tỉ lệ thật của một địa phương với ngưỡng chuẩn 90%, và đơn vị đo lường là độ lệch chuẩn của mỗi địa phương. Nếu địa phương có Z90 là số dương thì địa phương đó có tỉ lệ tốt nghiệp cao hơn ngưỡng chuẩn 90%; ngược lại, nếu địa phương có số âm thì tỉ lệ tốt nghiệp địa phương đó thấp hơn 90%.

    Có sự mất cân đối nghiêm trọng

    Tỉ lệ tốt nghiệp THPT của 63 tỉnh thành có thể xem qua Biểu đồ 1 ở phần đầu. Nếu dựa vào tỉ lệ tốt nghiệp (tính trung bình từ 2007 - 2010) thì 5 địa phương đứng đầu bảng là: Nam Định, 95.7%, kế đến là TPHCM 94.4%; Hà Nam 92.5%; Hải Phòng 89.9%; và Bắc Ninh 89.1%. 5 địa phương đứng cuối bảng là: Bắc Kạn 48.6%, Sơn La 52.3%, Cao Bằng 55.6%, Sóc Trăng 62.1%, và Yên Bái 62.6%. Tuy nhiên, như tôi trình bày trên, cách xếp hạng này không khách quan, vì chỉ dựa vào chỉ số trung bình, mà chưa tính đến độ dao động trong mỗi địa phương.

    Kết quả phân tích theo phương pháp EB được trình bày trong Biểu đồ 3. Theo kết quả này, TPHCM được xếp hạng 1, và Nam Định xếp hạng 2. Mặc dù có tỉ lệ thực tế (trung bình 2007-2010) của Nam Định là 95.7%, cao hơn TPHCM (94.4%), nhưng vì phương sai của Nam Định là 17.75, cao hơn TPHCM (chỉ 0.59), cho nên tỉ lệ thật (hay tỉ lệ về lâu về dài) của Nam Định là 92.8%, thấp hơn TPHCM (94.3%).

    Chú ý tỉ lệ thật của TPHCM không khác nhiều so với tỉ lệ thực tế, bởi vì độ dao động qua các năm của TPHCM quá thấp, và điều này chứng tỏ TPHCM không có bệnh thành tích như các nơi khác. Danh sách "top 10" và "bottom 10" có thể tóm lược trong bảng sau đây:

    Điều thú vị là trong danh sách top 10, có đến 7 tỉnh từ miền Bắc, chỉ có 3 địa phương từ miền Trung và Nam (Đà Nẵng, Lâm Đồng và TPHCM). Trong khi đó, trong danh sách bottom 10 có đến 6 tỉnh từ Đồng bằng sông Cửu Long, 1 tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên (Dak Lak), và đặc biệt không có tỉnh nào thuộc miền Bắc.

    Tuy nhiên, bất cứ phương pháp xếp hạng nào cũng chỉ có giá trị khi số liệu được thu thập một cách tối ưu, và đáp ứng các giả định đặt ra. Như tôi đề cập trong phần đầu, những số liệu này chưa phải là tốt nhất, vì thiếu số liệu về số học sinh thi qua từng năm. Ngoài ra, một giả định rất quan trọng trong phân tích này là tỉ lệ tốt nghiệp trong mỗi tỉnh thành phải tuân theo luật phân phối chuẩn, nhưng chúng ta chưa có dữ liệu đầy đủ để kiểm tra xem giả định này đúng hay không.

    Trong bối cảnh tỉ lệ tốt nghiệp đều tăng theo thời gian, chúng ta có thể đặt câu hỏi về vấn đề giả định. Tuy nhiên, vì số học sinh tham dự thi tuyển thường trên 1000 nên các tỉ lệ này có thể không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nhiễu, và kết quả trình bày trong phân tích này có thể xem là tín hiệu đáng tin cậy. Phương pháp tôi trình bày trong bài này thật ra có thể ứng dụng để xếp hạng các trường, nhưng số liệu đòi hỏi chi tiết hơn. Hi vọng rằng phương pháp này sẽ được sử dụng nhiều hơn nữa ở nước ta (thật ra thì các nước tiên tiến đều sử dụng phương pháp EB) để xếp hạng các trường hay tỉnh/thành một cách khách quan hơn.

    Kết quả so sánh này cho thấy chỉ có 2 địa phương (TP Hồ Chí Minh và Nam Định) là có tỉ lệ tốt nghiệp trên 90% một cách nhất quán qua các năm, còn lại 61 tỉnh thành khác thì tỉ lệ tốt nghiệp đều dưới 90%. Mức độ khác biệt giữa địa phương có tỉ lệ tốt nghiệp thấp nhất và cao nhất lên đến 26%.

    Mặc dù khác biệt giữa các địa phương là điều hoàn toàn có thể tiên đoán được, nhưng với một mức độ khác biệt đến 26% (tính trung bình) là một điều rất đáng quan tâm, vì điều này nói lên một thực tế là có sự mất cân đối nghiêm trọng trong "đầu ra" của ngành GD phổ thông giữa các địa phương.

    Trong thực tế, chúng ta không biết tỉ lệ tốt nghiệp bao nhiêu là "chuẩn". Cần nói thêm rằng bởi vì tỉ lệ tốt nghiệp còn tùy thuộc vào điểm chuẩn của từng môn học, và có khi điểm chuẩn thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ nước ngoài (như Úc chẳng hạn), có thể nói rằng một tỉ lệ tốt nghiệp 70% đã được xem là một tỉ lệ cao, và 80% là rất cao. Trong khi đó ở VN, 61/63 tỉnh thành đều có tỉ lệ (trung bình) tốt nghiệp THPT trên 70%, và 17/63 tỉnh thành có tỉ lệ trên 80%! Do đó, nếu lấy ngưỡng 70% là tín hiệu của "bệnh thành tích" thì có thể nói rằng hầu hết các tỉnh thành đều có triệu chứng này không phải chỉ năm 2010 mà trong 4 năm qua.

    Thêm vào đó, chúng ta thấy trong số "bottom 10" hầu hết là các tỉnh có cùng đặc điểm nghèo và khó. Nghèo về kinh tế, khó khăn về cơ sở vật chất. Do đó, kết quả trên gợi ý rằng nhà nước cần phải quan tâm đến các tỉnh vừa nêu, nhất là Ninh Thuận (một tỉnh mà bất cứ chỉ tiêu nào về GD cũng đứng cuối bảng), để nâng cao chất lượng.

    Ở nước ta vẫn còn cách cho điểm và đánh giá học sinh bằng đơn vị "nhị phân" như đậu hoặc rớt. Theo tôi, đây là cách đánh giá khá cổ điển và có thể không còn phù hợp trong thời đại ngày nay. Thật vậy, ở các nước tiên tiến (như Úc chẳng hạn), người ta đánh giá thành tích của học sinh qua điểm đạt được, và không có một chỗ nào trong chứng chỉ tốt nghiệp trung học viết hạng (ưu, trung bình, hay thấp), mà chỉ là điểm đạt được trong kì thi tốt nghiệp so với điểm tối đa.

    Do đó, những kết quả phân tích trong bài này còn gợi ý rằng trong tương lai, nước ta nên tiến đến một cách đánh giá học sinh theo điểm hơn là phân loại tốt nghiệp hay không tốt nghiệp. Đứng trên phương diện lí thuyết đo lường, điểm tốt nghiệp cung cấp nhiều thông tin hơn và có độ tin cậy tốt hơn cách phân nhóm đậu và rớt.
    Lần sửa cuối bởi laotam, ngày 24-06-2010 lúc 09:56 PM.

  6. #6
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    4 năm, xử lý 24 cơ sở giáo dục có hành vi tham nhũng
    (Dân trí) - Thông tin từ Bộ GD-ĐT, từ năm 2006 đến nay có 24 cơ sở giáo dục có hành vi tham nhũng đã được phát hiện và xử lý.


    Cụ thể, tại ĐH Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, 1 giáo viên nhận tiền của sinh viên để photo bài giải thi hết môn (với số tiền: 24.200.000đ), hình thức buộc thôi việc (hành vi mua bán điểm); tại ĐH Quy Nhơn, 1 vụ lạm thu chi quỹ xe đạp, xe máy. Cơ quan điều tra khởi tố 1 hiệu trưởng và 3 cán bộ nhân viên.

    Tại ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, 1 giáo viên yêu cầu sinh viên nộp tiền để chạy điểm, đã xử lý kỷ luật cảnh cáo (hành vi mua bán điểm); tại ĐH Kinh tế Quốc dân: 1 giáo viên yêu cầu sinh viên nộp tiền trong khi đang thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn sinh viên làm đề án môn học, đã bị xử lý kỷ luật cảnh cáo và chuyển làm công tác khác 1 năm.
    Tại Trung tâm tin học Kinh tế thuộc Đại học Kinh tế TPHCM, một nhóm người có hành vi vi phạm trong việc quản lý tài chính sai quy định để vụ lợi. Đã xử lý kỷ luật và chuyển công tác khác 4 người gồm: cảnh cáo giám đốc Trung tâm; khiển trách 1 phó Giám đốc và 2 nhân viên.

    ĐH Nông lâm TPHCM: Năm 2009, đã xử lý kỷ luật 1 trưởng khoa vì có sai phạm trong việc quản lý kinh phí các lớp đào tạo liên kết tại đơn vị.

    Đặc biệt, tại cơ quan Bộ đã kỷ luật cảnh cáo 1 cán bộ công chức vì hành vi lợi dụng trách nhiệm được phân công có vi phạm trong việc quản lý chứng chỉ...

    Tại Sở GDĐT An Giang, xử lý kỷ luật 4 hiệu trưởng, 3 kế toán, 4 thủ quỹ vi đã vi phạm trong quản lý tài chính để vụ lợi; đề nghị khởi tố 1 vụ tham ô trên 700 triệu đồng tại trường THPT Xuân Tô, An Giang.

    Sở GDĐT Kon Tum đã xử lý kỷ luật cách chức hiệu trưởng Trường THPT Bán công Duy Tân vì đã chỉ đạo thu tiền của học sinh không đúng quy định.

    Sở GDĐT Cà Mau vi phạm trong quản lý tài chính, đã xử lý kỷ luật cách chức hiệu trưởng và cảnh cáo phó hiệu trưởng, thu hồi toàn bộ số tiền chi sai (hơn 110 triệu đồng) tại Trường THPT Cái Nước, Cà Mau.

    Sở GDĐT Hải Phòng đã xử lý kỷ luật cách chức 2 hiệu trưởng và 1 phó hiệu trưởng (THPT Lý Thường Kiệt; THPT Nguyễn Đức Cảnh; THPT Tô Hiệu) vì có hành vi tiêu cực trong công tác quản lý. Sở GDĐT Bạc Liêu, cơ quan điều tra đã truy tố 1 giám đốc, 1 phó giám đốc và một số cán bộ công chức tại cơ quan Sở vì có hành vi tổ chức mua bán điểm thi tốt nghiệp THPT.

    Tại Sở GD-ĐT TPHCM năm học 2006-2007, đã kỷ luật buộc thôi việc 1 hiệu trưởng và cảnh cáo một số cán bộ nhân viên Trường THPT Lê Quý Đôn vì có hành vi vụ lợi trong việc cho học sinh chuyển trường.

    Theo lãnh đạo Bộ, tính riêng từ đầu năm 2009 đến nay, Bộ đã tiến hành thanh tra hành chính phòng, chống tham nhũng 35 đơn vị và hàng chục cuộc thanh tra chuyên ngành khác. Các cuộc thanh tra đã góp phần giúp các cơ sở giáo dục thấy rõ được những ưu điểm và những hạn chế, thiếu sót trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

    Hồng Hạnh

  7. #7
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Mua "bằng cấp" xuyên quốc gia và lời...cơ chế
    Tác giả: Kim Dung
    Câu chuyện làm TS của ông Nguyễn Ngọc Ân đã không còn là chuyện lạ. Nó chỉ là trái đắng của một cái cây, mà gốc rễ từ lâu, đã không bình thường.



    Nói thật, trong xã hội hiện nay, từ lâu người ta đã quá quen và cũng quá...chán ngán về những vụ việc gian lận trong học vấn và thi cử: Đạo văn, mua điểm, bán điểm, và nhất là học rởm, bằng dỏm, hoặc học rởm, bằng thật... Thế nhưng nếu những vụ việc ấy lại xảy ra ở các quan chức có trách nhiệm, đầu ngành, đầu tỉnh...thì hệ lụy và tai tiếng của chuyện dối gian sẽ loang xa và di hại rất nhiều, khiến dân mất lòng tin, và hơn nữa, dân sẽ coi thường cả tư cách, phẩm hạnh, coi thường cả phép nước.

    Lời của con người...

    Đó cũng là câu chuyện xảy ra gần mấy tuần nay ở tỉnh Phú Thọ. Trung tâm của câu chuyện gây xôn xao là ông Nguyễn Ngọc Ân, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Phú Thọ vừa có học vị tiến sĩ, với đề tài: "Vấn đề di sản văn hóa với việc phát triển kinh tế du lịch tỉnh Phú Thọ".

    Chuyện sẽ "chẳng có gì mà ầm ĩ thế", nếu như dân tình trong tỉnh không nhiều người biết, trước đó ông Ân chỉ là cử nhân tại chức kinh tế- quốc dân khóa 24 (được tổ chức tại TP Việt Trì).

    Xưa nay, ngay cả ngành GD cũng thừa nhận chất lượng của hệ đào tạo này chưa ổn, thậm chí dân gian còn ví von hài hước: "Dốt như chuyên tu...", nhất là những khóa đào tạo kiểu này đặt tại cơ sở.

    Đùng một cái, ông Ân trở thành TS kinh tế quản trị kinh doanh của Trường ĐH Nam Thái Bình Dương (Mỹ). Việc ông bảo vệ luận án do do Viện Kinh tế (Bộ Tài Chính) giới thiệu, và có tỉnh Phú Thọ hỗ trợ kinh phí.

    Dư luận xôn xao, bởi cách ông Ân làm NCS không bình thường. Theo chính ông nói: Trong thời gian làm TS (tháng 2-2007 đến tháng 9-2009), ông sang trường ĐH này học hai đợt, mỗi đợt một tuần để nghe giảng tiếng Anh (có người phiên dịch sang tiếng Việt). Ngay cả khi bảo vệ luận án, cũng có người dịch cho ông từ đầu đến cuối. Trường ĐH Nam Thái Bình Dương không yêu cầu những NCS như ông phải biết tiếng Anh, không phải thi đầu vào (?), mà chỉ cần gửi đề cương sang cho họ chỉnh sửa là được.
    Điều ngạc nhiên, tuy hỗ trợ kinh phí, nhưng ngay một vị lãnh đạo của tỉnh Phú Thọ cũng thừa nhận, quy trình đào tạo để trở thành TS của ông Ân "có vấn đề". Vì theo quy chế của Bộ GD và ĐT, NCS phải có bằng thạc sĩ, hoặc tốt nghiệp ĐH chính quy loại khá trở lên... Và một điều kiện bắt buộc, phải có trình độ ngoại ngữ nhất định để tham khảo tài liệu, tham gia hoạt động quốc tế và chuyên môn phục vụ nghiên cứu khoa học, thực hiện đề tài luận án.

    Cũng không chỉ có một mình ông Ân, hiện có khoảng chục cán bộ của các địa phương cũng được đào tạo TS kiểu này (!)

    Chưa cần nói đến thời gian đầu tư thực chất, các quy trình... chỉ cần đối chiếu với 2 tiêu chuẩn quy định đầu tiên mang tính chất bắt buộc, đó là tốt nghiệp ĐH chính quy loại khá trở lên, đủ trình độ ngoại ngữ để tham khảo tài liệu, cũng thấy ông Ân chưa đạt yêu cầu.

    Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, là cách hành xử của tỉnh Phú Thọ: Biết cán bộ "có vấn đề", nhưng vẫn tiếp tay! Vì lý do gì: Vì nể nang, vì ông Ân đã nằm trong đội ngũ được "quy hoạch" từ trước, hay còn vì lý do gì khó nói?....

    Ngay sau khi thông tin về học vị TS của ông Ân xôn xao trong nước, trong bài viết mới đây: "Nhu cầu dẫn đến bằng giả từ trường dỏm", GS Nguyễn Văn Tuấn (Úc), người trước đó đã ngay lập tức tìm kiếm thông tin, khẳng định: "Trường ĐH Nam Thái Bình Dương không phải là một ĐH, mà chỉ là một cơ sở thương mại, buôn bán bằng cấp cho những ai có nhu cầu...Tuy nó đặt ở Hawaii, nhưng gốc gác lại ở tận...Malaysia. Và đã bị...giải thể từ ngày 28/10/2003(!).

    Mặc dù, GS Nguyễn Văn Tuấn cho rằng đây là trường hợp "bằng giả, trường dỏm", người viết bài này không có ý đưa ra một khẳng định gì về cái bằng và Trường ĐH nơi ông Ân đươc cấp bằng TS.

    Điều này, chỉ chính ông Ân hiểu rõ hơn ai hết.

    Nhưng xin được giả định, nếu GS Nguyễn Văn Tuấn có sự nhầm lẫn, và trường ĐH nơi ông Ân làm NCS là trường ĐH thực chất, thì ông Ân vẫn vi phạm quy chế do Bộ GD và ĐT đề ra. Liệu cái bằng TS do biết cách "nhào lộn" đó có còn mấy giá trị? Và đâu là phẩm cách, là đạo đức trung thực của người cán bộ lãnh đạo ngành văn hóa của một tỉnh có "Đế Đô"?

    Còn nếu như trường ĐH đó, lại chính là trưởng "dỏm" như phân tích của GS Tuấn, thì quả thật, tấm bằng TS đó chẳng có giá trị gì. Ông Ân đã bị lừa, hoặc chính ông cố tình để cho mình "bị lừa"!

    Và lời của...cơ chế

    Mọi chuyện về tấm bằng tiến sĩ của ông Nguyễn Ngọc Ân, mới chỉ là dư luận xã hội nghi vấn, chưa có kết luận gì của cơ quan quản lý cao nhất - Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ.

    Thế nhưng, câu chuyện làm TS của ông Nguyễn Ngọc Ân đã không còn là chuyện lạ. Nó chỉ là trái đắng của một cái cây, mà gốc rễ từ lâu, đã không bình thường.

    Hãy thử nhìn vào cái cây ấy - xã hội và cơ chế quản lý xã hội hiện nay.

    Nền GD của chúng ta, về bản chất vẫn là nền GD hư danh, một nền GD "hư học". Với nền GD "hư học" ấy, trẻ em, thanh niên đi học cần "cái bằng" để làm quan, chứ không phải để "làm việc". Cánh cửa ĐH vẫn là cánh cửa duy nhất và đầu tiên để họ tiến thân

    Và cơ chế xã hội, cha sinh - mẹ đẻ của nền GD "hư học" ấy, tuy không biết nói tiếng nói của con người, nhưng cơ chế đó nó lại "biết nói" bằng tiếng nói riêng của mình - những quy chuẩn, tiêu chuẩn cán bộ chính nó định ra, phục vụ cho hệ thống công quyền. Đương nhiên càng ở các vị trí lãnh đạo, trình độ con người ta càng phải nâng cao, và được quy chuẩn duy nhất bằng cái "bằng cấp": Chuyên môn thì Thạc sĩ, TS, chính trị thì lý luận trung cấp, cao cấp...v .v.. và v..v..

    Những quy chuẩn đó, về hình thức, không sai, và tưởng như là đòi hỏi rất có lý về năng lực, phẩm chất cán bộ để "ngang tầm nhiệm vụ". Vì thế mới có chuyện Thủ đô Hà Nội từng có ý định đòi 100% cán bộ cốt cán phải có bằng tiến sĩ (!)
    Nhưng thực chất, gắn với cách tuyển chọn, sử dụng, quy hoạch cán bộ như lâu nay, quy chuẩn "bằng cấp" đó lại rất hình thức, hời hợt. Nó đã không còn là sự khuyến khích con người ta phải có động lực rèn tài năng, phẩm hạnh đích thực. Vô tình còn là mảnh đất mầu mỡ để cho gian dối nở hoa, kết trái, để cho sự biến chất của phẩm cách, lương tâm. Bởi tự lúc nào, bằng cấp là cái đòn bẩy của bậc thang danh vọng.

    Đã có bao nhiêu vụ bằng rởm, "học rởm bằng thật" bị phát hiện? Không thể thống kê hết, vì con đường tìm kiếm "bằng cấp" với mọi giá, xem ra lại là con đường được không ít người ham hố còn tiếp tục muốn đặt chân lên. Chắc chắn trên con đường ngắn nhưng đầy biếm nhục này ông Ân không phải là lữ khách cuối cùng.

    Bằng cấp không kiếm được bằng năng lực trí tuệ, thì có thể kiếm bằng tiền, bằng rất nhiều tiền. Bằng cấp mua trong nước không có "tên tuổi" lắm, không "oai" lắm, thì có thể mua ngoài nước, xuyên đại dương, xuyên quốc gia.

    Vì vậy, chuyện kiếm bằng cấp TS theo kiểu của ông Nguyễn Ngọc Ân không phải là trường hợp cá biệt, mà là chuyện, đáng buồn thay, phổ biến trong xã hội hiện nay.

    Ông Ân có thể cảm thấy rất xấu hổ, nếu ông còn có lòng tự trọng. Nhưng có nhiều cán bộ, kiếm bằng cấp theo kiểu "tắt" như thế này, thì cơ chế xã hội có nên day dứt? Bởi phải chăng, với những thang bậc giá trị thực ảo, trắng đen lẫn lộn, cơ chế xã hội hiện nay, đã khiến không ít người như ông Ân tự nguyện làm những việc "phi văn hóa" trong cái guồng quay tham vọng chóng mặt. Nếu không có sự cố ồn ào này, liệu ông Ân và còn biết bao quan chức cùng "cảnh ngộ" như ông có biết điểm dừng?

    Và nếu cơ chế này biết... "nói" tiếng người, nó sẽ nói gì nhỉ. Hay chính nó cũng phải thú nhận: Đã đến lúc cần thực sự phải đổi mới?

Cảm ơn Bộ GD&ĐT đã tăng lương GV gấp 2,1 lần! ( Thầy Văn Như Cương )

Đánh dấu

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
.::Thăng Long Kỳ Đạo::.
  • Liên hệ quảng cáo: trung_cadan@yahoo.com - DĐ: 098 989 66 68