Warning: Illegal string offset 'name' in [path]/includes/functions.php on line 6845
Những nghệ nhân đất Thăng Long xưa và nay
Close
Login to Your Account
Kết quả 1 đến 10 của 11

Hybrid View

  1. #1
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Làng gốm Bát Tràng - Hà Nội

    Làng gốm Bát Tràng - Hà Nội - AMTHUC365

    Tên Bát Tràng được hình thành từ thời Lê, đó là sự hội nhập giữa 5 dòng họ gốm nổi tiếng của làng Bồ Bát xứ thanh với dòng họ Nguyễn ở đất Minh Tràng này.


    Sau đó 5 dòng họ lớn trong làng gốm Bát Bồ là các họ Trần, Vương, Nguyễn, Lê, Phạm đã nhóm họp và quyết định đưa một số nghệ nhân, thợ gốm và gia đình con cháu họ dời làng di cư về phía kinh thành Thăng Long tìm đất lập nghiệp. Họ dừng chân tại vùng 72 gò đất trắng làng Minh Tràng. Sáu dòng họ trên vùng 72 gò đất trắng ấy đã góp sức cùng nhau làm nên một Bát Tràng với những viên gạch mộc mạc, đơn sơ nhưng để lại một dấu ấn khó quên trong ca dao cổ.

    Ước gì anh lấy được nàng
    Ðể anh mua gạch Bát Tràng về xây
    Xây dọc rồi lại xây ngang
    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

    Không chỉ viên gạch cổ, Bát Tràng còn là một làng nghề sản xuất gốm khá nổi tiếng từ bao đời nay. Sản phẩm gốm Bát Tràng như lọ độc bình, song bình, bát vẽ chuồn, bát vẽ các tích cổ...đã được các lái thương Bồ Ðào Nha, Nhật Bản, Hà Lan, Pháp... mua với số lượng lớn. Nhiều nghệ nhân Nhật Bản đã bắt chước phong cách tạo hình, nét vẽ phóng khoáng, màu men đa dạng, giản dị, mộc mạc mà sâu lắng của gốm Bát Tràng.

    Cái khéo cái tài của người làng gốm Bát Tràng được phát huy cao độ trong cơ chế thị trường: Hàng gốm mỹ thuật, gốm sứ công nghiệp, đồ giả cổ, gốm xây dựng cao cấp được dần thay thế cho đồ gia dụng như bát, chén, đĩa, gạch. Những mặt hàng truyền thống xưa chỉ được làm khi có khách đặt để trùng tu phục chế di tích cổ.

    Ðến Bát Tràng hôm nay, ít có ai ngờ có một thời nghề gốm sứ nơi đây đã có cơ mai một, cả làng chỉ còn vài lò gốm của HTX với sản phẩm đa dạng như bát, tích, chén, sành phẩm chất cấp thấp. Ðể có sức sống đầy xuân sắc hôm nay, người Bát Tràng ngoài cái tinh, cái nhạy còn tiềm ẩn một tình yêu da diết với nghề gốm cổ truyền. Bằng lòng yêu nghề và sự miệt mài lao động, tìm tòi sáng tạo, nghệ nhân Ðào Văn Can đã tìm ra bí quyết men mờ, rạn của gốm cổ Việt, các nghệ nhân Lê Văn Vấn, Lê Văn Cam, Nguyễn Văn Khiếu... mỗi người một tìm tòi, phát hiện để góp những kiến thức, kinh nghiệm để phục chế các nước men gốm sứ Bát Tràng xưa. Những thành quả lao động sáng tạo của lớp nghệ nhân già cùng sức trẻ của bát Tràng đã làm nên một thế giới đa dạng, sống động lấp lánh sắc màu từ nắm đất quê hương.

    Nguồn tin: Vietnamtourism

  2. #2
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Nghệ nhân thêu chân dung Bác Hồ

    Nghệ nhân thêu chân dung Bác Hồ

    Không chỉ nổi tiếng với nhiều tác phẩm đạt giải, ông còn được nhiều người biết đến với bức tranh thêu đặc sắc chân dung Bác Hồ. Những đường kim, mũi chỉ tơ óng ả nhiều màu sắc, qua bàn tay vàng và tấm lòng thiết tha với nghề thêu truyền thống của nghệ nhân Thái Văn Bôn, nhiều tác phẩm thêu có giá trị nghệ thuật cao đã ra đời. Bằng sự trải nghiệm và chắt lọc tinh hoa nghề thêu, ông còn sáng tạo ba bức tranh thêu lớn kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
    Ông sinh ra trong một gia đình có nghề thêu truyền thống tại thôn Nguyên Xá (xã Quất Động - huyện Thường Tín - Hà Nội), quê hương của ông tổ nghề thêu Công Hành. Từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, năm 1946 chú bé Thái Văn Bôn đã vào đội Thiếu Sinh Vệ Quốc Quân làm liên lạc và hoạt động văn nghệ. Đến năm 1949 Thái Văn Bôn được vào trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam để học tập. Lần đầu tiên cậu học sinh Thái Văn Bôn được biểu diễn văn nghệ trong dịp mừng thọ Bác Hồ tại Việt Bắc năm 1950, ấn tượng sâu sắc đó đã in đậm trong trái tim cậu học sinh trường Thiếu Sinh Quân.

    Từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam, Thái Văn Bôn được cử đi học tại Trường sư phạm Trung ương đầu tiên của Việt Nam tại khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc). Đến năm 1953, sau khi tốt nghiệp Thái Văn Bôn được phân công về dạy học ở vùng tự do khu bốn trước đây (Thanh Hóa). Khi được hỏi cơ duyên nào dẫn ông đến với nghề thêu, ông tâm sự rất chân thành. Đó là năm 1954 khi hòa bình lập lại, “tôi may mắn được cử về địa phương tiếp tục sự nghiệp trồng người. Niềm vui được làm việc tại quê hương, nơi có nghề thêu truyền thống mà tôi yêu thích. Không có một ngôn từ nào có thể diễn tả nổi, nó như một giấc mơ và nó làm bùng lên niềm đam mê sẵn có trong tôi”.

    Bằng tình yêu mãnh liệt và chân thành với nghề thêu, ông không bao giờ thôi học hỏi, tìm tòi và sáng tạo. Hơn 50 năm gắn bó với nghề thêu, cuộc đời ông là cả một quá trình dài: Học - dạy và học. Ông đã đem tất cả những tình cảm, suy nghĩ và tài năng để cho ra đời nhiều tác phẩm chứa đựng trong đó cái “thần”, cái “hồn” của cuộc sống. Và những tinh hoa trong sáng tạo đó đem lại cho ông những giải thưởng: HCV tại Hội chợ kinh tế kỹ thuật toàn quốc với bức tranh “Chợ quê” (1989) . Năm 1988 ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu “nghệ nhân”. Đến năm 1996 ông lại vinh dự được nhận danh hiệu “bàn tay vàng” với những tác phẩm thêu phong cảnh và tĩnh vật tại Hội chợ ngành Thủ công mỹ nghệ và Kim hoàn toàn quốc. Bức tranh thêu chân dung Bác Hồ của ông được nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải khen ngợi tại triển lãm.

    Đã từng là giáo viên, người nghệ nhân không chỉ tự học, tự làm, tự đúc rút ra kinh nghiệm. Ông còn mang những kiến thức, kinh nghiệm ấy giảng dạy cho lớp trẻ, đã có hơn 700 thợ thêu và hàng trăm giáo viên dạy nghề thêu khác được ông đào tạo qua các đợt huấn luyện tay nghề, hay các lớp học tập trung. Dù đã ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng ông vẫn không ngừng nghỉ, ngoài việc dạy nghề, ông còn tham gia viết sách. Ông đã được NXB Giáo dục in và phát hành cuốn: Thêu màu – xuất bản năm 1983, Hướng dẫn thêu - xuất bản năm 1989, Kỹ thuật thêu màu - xuất bản năm 1995, và cuốn Nghề thêu rua – xuất bản năm 2000, (tái bản lần thứ 5 tháng 11/2009). Mới đây nhất, cuốn sách “Hoạt động giáo dục nghề phổ thông”, Nghề thêu tay 11 được xuất bản năm 2008 và tái bản tháng 11/2009 và được đưa vào đào tạo nghề trong tất cả các trường phổ thông trung học trên cả nước. Ông tâm sự, chỉ sợ thời gian không còn nhiều để ông có thể đào tạo thêm các lớp học trò tiếp theo, nhưng cũng may mắn thay cả ba cậu con trai của ông là anh Thái Văn Mạnh, Thái Việt Hùng và Thái Văn Hiệp đều theo nghề thêu truyền thống của gia đình. Ông kể cậu con trai thứ tư là anh Thái Văn Hiệp đã có hẳn một xưởng thêu trong Công viên Thiên Đường Bảo Sơn rất quy mô khiến ông an lòng.

    Dù tuổi đã cao, nhưng nghệ nhân “già” vẫn không ngừng tìm tòi những mẫu thêu mới và những kinh nghiệm quý báu trong nghề để truyền lại cho con cháu, đó là sự chuyển tiếp của hai thế hệ, để làm cho nghề thêu sống mãi với thời gian.



    Vũ Chiến

    Địa chỉ: Vũ Thường Chiến

    Số 401 Lương Thế Vinh- Trung Văn- Từ Liêm- Hà Nội

    Đt: 090.2271.003

  3. #3
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Nghệ nhân Mai Hạnh – “nữ hoàng” hoa lụa


    Nghệ nhân Mai Hạnh – “nữ hoàng” hoa lụa - XãLuận.com tin tức Việt Nam cập nhật 24 giờ

    Người phụ nữ ấy năm nay 60 tuổi, có giọng cười giòn tan của một tâm hồn trẻ. Bàn tay bà được nâng niu bằng không ít những nụ hôn, bởi bà đẹp thì đã rõ, nhưng điều quan trọng hơn, bàn tay ấy đã tạo nên vẻ đẹp hồn cốt của biết bao loài hoa, gìn giữ và phát triển một loại hình nghệ thuật đặc sắc của dân tộc.

    Bà là Mai Hạnh – Nữ hoàng hoa lụa Hà Thành.

    Bén duyên hoa từ một vết thương

    Sinh ra trong một gia đình gốc gác mấy đời ở đất Hà Thành, cô con gái út xinh đẹp của nghệ nhân Đoàn Thị Thái là người duy nhất trong số 9 anh em nối nghiệp mẹ làm hoa lụa. Cô gái ấy giờ cũng đã lên bà, được phong tặng nghệ nhân như mẹ cô thủa trước, tiếp tục đưa những sắc hoa, hình lá từ thiên nhiên trở thành bất tử.

    Hàng ngày, “nữ hoàng” vẫn chăm chút cho cửa hàng hoa số 5 Chả Cá và say mê sáng tạo. Thế nhưng ít ai biết rằng, bà bén duyên với nghề hoa từ một vết thương!

    Năm 13 tuổi, Mai Hạnh được mẹ dạy cắt những cánh hoa đầu tiên, khi ấy bà cũng chỉ học để phụ giúp mẹ làm hàng hoa cho khách chứ chưa hề ý thức sẽ nối nghề. Đến khoảng năm 1965, bà theo mẹ đi sơ tán ở Hưng Yên. Trong một trận máy bay Mỹ bắn phá, bà bị thương nặng ở chân. Năm đó, đang học lớp 8, gia đình không cho bà học lên nữa mà ở nhà nghỉ một năm. Chính một năm nghỉ học này đã giúp bà tìm thấy niềm đam mê trong những bông hoa lụa. Bà tâm sự: “Nếu không bị thương, có lẽ tôi đã học lên cao và làm một nghề khác chứ không làm hoa lụa như mẹ tôi. Trong suốt một năm nghỉ học, tôi đã theo mẹ đến những lớp gia chánh mà mẹ tôi dạy ở vùng sơ tán. Mẹ dạy hoa thì tôi học hoa, mẹ dạy nấu ăn tôi học nấu ăn… Nhưng tôi thích nhất là làm hoa. Hễ đi trên đường hoặc đi đâu đó gặp những bông hoa đẹp, hoa lạ tôi đều hái về bắt chước mẹ làm. Dần dà, tôi thấy yêu, thấy say, không dứt ra được nữa. Hoa lụa gắn với tôi như là duyên phận vậy.”

    Bà Hạnh còn kể thêm, sau này, khi đi học một lớp về hội họa, thầy giáo có nói với bà rằng: “Mẹ con làm nghề hoa là rất quý. Học hội họa để thành một người biết vẽ thì không khó nhưng thành nghệ nhân thì không có đâu. Nên con cứ nên vừa học hội họa, vừa làm hoa”. Nghe thầy, cuối cùng Mai Hạnh đã thành công. Năm 1985 bà được phong tặng nghệ nhân khi chưa đầy 35 tuổi. Thành công ấy là sự cộng gộp của một gốc gác gia truyền, đam mê, sáng tạo và nỗ lực không ngừng.

    Mỗi bông hoa - một số phận

    Bây giờ nhờ công nghệ hiện đại, người ta có thể sản xuất ra hàng loạt những bông hoa giống hệt nhau đến từng chi tiết nhỏ. Nhưng, hoa lụa Mai Hạnh khi đưa ra thị trường vẫn giữ được uy tín và tình yêu đối với những người thích, yêu và chơi hoa lụa. Với Mai Hạnh, hoa lụa làm bằng tay bao giờ cũng mềm mại hơn. Người ta cứ nghĩ, hoa lụa là hoa giả, mà giả thì chỉ cần làm cho giống với hoa thật là đẹp. Thực ra, ở đây không phải là làm cho giống mà là làm sao để thổi được hồn vào mỗi bông hoa để trong cái thật có cái giả, trong cái giả lại là cái thật đến mê hồn, quyến rũ và đầy tinh tế.

    Gần 50 năm trong nghề, dường như chưa bao giờ Mai Hạnh làm hoa theo cách của một người thợ quen tay, lành nghề. Bao giờ cũng thế, mỗi bông hoa qua sáng tạo của bà đều mang một vẻ riêng, một câu chuyện riêng, thậm chí là một số phận riêng đầy màu sắc.

    Không chỉ nỗ lực tìm tòi, phát triển nghề hoa lụa, Mai Hạnh còn góp một phần không nhỏ vào việc quảng bá nghề hoa truyền thống của dân tộc đến rất nhiều nước khác nhau. Mỗi chuyến đi, bằng “đôi tay lụa” của mình, Mai Hạnh đã khiến bạn bè thế giới phải ngỡ ngàng, nể phục. Như trong một lần bà trình diễn tại Nhật Bản. Bên cạnh 12 nghệ nhân các nước châu Á, họ đều có máy dập, một lần làm ra tới 20 cánh hoa. Trong khi đó, Mai Hạnh trong tay chỉ có một cây kéo, nghĩa là làm thủ công. Nhưng chính điều đó lại gây

    kinh ngạc với người xem. Đôi bàn tay khéo léo, nhanh nhẹn đầy biến hóa đã tạo nên nét riêng đặt biệt của hoa lụa Việt Nam. Mai Hạnh kể: “Từ lo lắng đến bủn rủn chân tay vì sợ mình không làm được như… máy của các bạn, tôi cảm động đến phát khóc khi nhận được sự cổ vũ nhiệt tình của người xem khi kết thúc “cuộc so tài”. Bàn của tôi đông nhất, thu hút sự chú ý nhất. Tôi cảm động quá! Trong đời, tôi chưa bao giờ có được niềm tự hào đến thế...”

    Ước mơ hoa

    Cùng thăng trầm với hoa lụa đất Hà Thành, hơn ai hết, bà là người hiểu sâu sắc thú chơi hoa của người Hà Nội. Ngày trước, các mẫu hoa ít hơn, nguyên liệu làm hoa lụa cũng không sẵn có như bây giờ, thậm chí, gia đình bà còn phải làm hoa từ những mớ vải tiết kiệm.

    Thế nhưng, người xưa chơi hoa lại rất sành, chơi lấy tinh hoa chứ không vì số lượng. Ví như vào dịp tết, chỉ cần một cành đào nhỏ trong nhà, thế nhưng cành đào ấy phải được làm chuẩn đến từng chi tiết. Thậm chí, hoa lụa có sắc còn phải có mùi. Chơi thế mới sang! Ngày nay, công nghệ phát triển, hoa lụa ngàn ngạt muôn hình vạn trạng, đủ màu, đủ sắc. Đời sống khá giả hơn, nên người chơi hoa không hẳn quan tâm về giá cả mà quan tâm về chất lượng. Tuy nhiên, dường như xu hướng bây giờ lại thích những gì đồ sộ, vĩ đại hơn là những gì nhỏ bé.

    Năm 2010, nghệ nhân Mai Hạnh dự định sẽ làm 100 cành hoa đào với 1000 bông hoa, như ước vọng về một tương lai ngàn hoa đua nở. Trong tất cả những tác phẩm hoa nghệ thuật do Mai Hạnh làm, chủ đề mà bà thể hiện nhiều nhất là “tre già măng mọc". Đó cũng là trăn trở của bà với chính nghề hoa lụa của mình. Trong suốt những năm qua, bà truyền nghề cho không ít học sinh, tạo công ăn việc làm cho biết bao trẻ mồ côi, tàn tật. Ngay như chính con gái bà là chị Đặng Thị Minh Hằng cũng đang theo nghề mẹ. Thế nhưng bà vẫn tỏ ra chưa yên tâm. Bởi lẽ, như bà nói: “Trong số những học trò của tôi, người khéo tay thì không thiếu, nhưng có được đam mê mới khó. Thị trường hoa ngày càng phát triển, người ta làm hoa hàng loạt nhiều, mấy ai còn dày công nâng niu từng cánh hoa như mình nữa. Giá thành của một bông hoa làm tỉ mẩn bằng tay qua biết bao công đoạn, ắt phải cao hơn, làm sao cạnh tranh được với thị trường hoa ồ ạt ngoài kia. Bởi thế, không có đam mê thì sẽ chẳng ai còn muốn làm hoa lụa nữa”.

    Mai Hạnh đã dành trọn tuổi trẻ, tình yêu cho hoa lụa, và giờ đây, ở bên kia con dốc của cuộc hành trình đời mình, bà vẫn cần mẫn kiếm tìm, với hi vọng, bằng chính đam mê của mình, sẽ thổi bùng đam mê trong những học trò kế cận để giữ lửa cho nghề. Mai Hạnh đã góp thêm cho Hà Thành không chỉ là những bông hoa lụa mà còn cả một tâm hồn đẹp, một đóa nhài thơm!

  4. #4
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Đào Trọng Cường: Nghệ nhân có đôi bàn tay vàng

    Đào Trọng Cường: Nghệ nhân có đôi bàn tay vàng | Người Hà Nội

    Gần đây, người dân cả nước đặc biệt chú ý đến sự kiện một doanh nhân Việt Nam đã bỏ ra một số tiền khổng lồ để mua khối ngọc bích Jadeite lớn nhất mọi thời đại từ xứ sở đá quý Myanmar.

    Ông là nghệ nhân Đào Trọng Cường, Phó Chủ tịch Hiệp hội Đá quý Việt Nam, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng GĐ Cty Đá quý Nữ trang Thần Châu Ngọc Việt. Người đời biết đến ông như một đại gia tiền “nhiều như nước”, nhưng ít ai biết rằng, cuộc đời của doanh nhân này cũng có không ít thăng trầm và nước mắt.

    Từ lâm tặc, vàng tặc, đá tặc…


    Nghệ nhân Đào Trọng Cường thường vui chuyện kể rằng, mấy lần đi xe máy, toàn bị nhầm tưởng là lão xe ôm; còn khi tự lái xe con đi làm việc, thường bị bảo vệ chặn ở cổng, vì tưởng là lái xe cho sếp. Dáng người gầy còm, cao lòng khòng, khuôn mặt gầy sọp, tóc rễ tre muối tiêu, ăn mặc tuềnh toàng, trông ông Cường giống phong thái của một nghệ sĩ, hơn là một doanh nhân thành đạt. Bản thân ông thích được gọi là nghệ nhân, chứ không thích được gọi là doanh nhân, đại gia. Con người đi lên từ đôi bàn tay tài hoa chai sạn thường vẫn giản dị như vậy.

    Tôi gặp nghệ nhân Đào Trọng Cường vào năm 2002, khi mà xã hội rộng lớn chưa biết ông là ai. Đó là lần đầu tiên ở nước ta, tại khách sạn Melia Hà Nội, xuất hiện một triển lãm đặc biệt. Có tới 600 bức tranh làm từ đá quý được trưng bày, thu hút sự chú ý của hàng vạn người trong và ngoài nước tới thưởng lãm vẻ đẹp rực rỡ của chúng. Ngày đó, tranh đá quý là một thứ xa lạ, thậm chí chưa từng được nói tới.

    Ông Cường tâm sự: “Đời tôi bôn ba tới hơn 20 nghề, từ tay trống, nghệ sĩ đàn ghi ta, công nhân may, làm mì sợi, xà phòng, sửa chữa tủ lạnh, tivi, ôtô, đến đào đãi vàng, đá quý thổ phỉ… rồi cuối cùng mới là một nghệ nhân làm tranh đá quý”.

    Nhớ lại những ngày tháng gian khổ đó, đôi khi nghệ nhân Đào Trọng Cường rưng rưng xúc động. Nhưng ông cũng cám ơn đoạn đời gian khổ, đã đào luyện ông thành người có nghị lực mạnh mẽ và bản lĩnh để làm được những điều khác người.

    Cha ông là người mê nghệ thuật, nên âm nhạc đã sớm ngấm vào chàng trai Đào Trọng Cường. Được cha mẹ đưa về Hà Nội nuôi dạy từ năm mới 2 tuổi, đến 19 tuổi, ông đã là tay trống lừng danh đất Hà thành và là một tay chơi ghi-ta có hạng. Nhưng rồi, con đường nghệ thuật không giúp cho việc mưu sinh, nên ông xin vào Nhà máy chỉ khâu Hà Nội làm công nhân. Làm việc tăng ca tăng kíp, suốt mấy năm trời ông mới dành dụm được một khoản tiền, đủ mua đôi dép tông Trung Quốc. Ông vẫn nhớ rõ cảm giác sung sướng, hãnh diện như thế nào khi đi đôi tông ấy.

    Nhưng rồi, khi đôi dép tông chưa kịp mòn, Đào Trọng Cường đã trở thành kẻ thất nghiệp vì nhà máy làm ăn thua lỗ. Không có việc làm, Cường dạt vào Nam, làm đủ nghề kiếm sống. Với trí thông minh, óc sáng tạo, Cường đã sáng chế ra “dây chuyền công nghệ” sản xuất mỳ sợi. Tuy nhiên, bao nhiêu công sức, tiền của đầu tư cuối cùng đổ ra sông ra biển, vì cơ sở mua công nghệ đã lỗi thời, không có tiền chi trả. Cũng may, khi đó có bạn gái từ Hà Nội vào thăm, nên mới có tiền mua vé trở ra Hà Nội. Không nhụt chí, Cường lại vào Sài Gòn tìm cách học lỏm công nghệ làm xà phòng từ một gia đình người bạn. Ra Hà Nội, ông mở cơ sở làm xà phòng bánh, rồi mang đi bán khắp phố phường. Có vốn, ông mở gara sửa chữa ôtô, quyết làm ăn lớn. Những năm cuối cùng của thời bao cấp, Đào Trọng Cường đã đi Mercedes. Tuy nhiên, cơn lốc tín dụng năm 1989 đã cuốn trôi tất cả. Các chủ nợ đến siết, thu hết gia sản. Thứ giá trị nhất trong nhà là chiếc đầu video mà ông mua tặng con gái, cũng bị người ta tịch thu. Ký ức đau lòng đó ám ảnh ông đến tận ngày nay, bởi vợ chồng, con cái khi đó phải sống nhờ thúng xôi của mẹ.

    Gian khổ nhất là những ngày làm… “lâm tặc”. Sau khi trải qua đủ các loại nghề đều thất bại, chán nản, ông cùng một nhóm người cơm nắm, muối vừng, vác theo cưa, xẻng, xà beng lang thang xuyên qua hàng chục cánh rừng để tìm gỗ hoàng đàn, bán cho những người tạc tượng. Gỗ hoàng đàn cạn kiệt thì đi theo bạn bè khai thác vàng thổ phỉ. Đã không ít lần ông suýt bỏ mạng nơi rừng thiêng nước độc. Bệnh tật, đói ăn, sốt rét rừng, bị cướp dí súng vào gáy, kề dao vào cổ, thậm chí bị đánh gãy cả chân. Nhưng chính những ngày đi làm vàng thổ phỉ đã đẩy cuộc đời ông vào ngã rẽ khác. Màu sắc lung linh kỳ ảo của những viên đá quý trong các mỏ đá ở Yên Bái đã hút hồn ông.


    Trở thành Nghệ nhân có bàn tay vàng


    Hồi khai thác đá quý, ông Cường để ý thấy người Thái Lan thường xuyên sang tận các mỏ đá ở Yên Bái để xem xét, rồi mua những viên đá mà theo sự đánh giá của giới khai thác, nó chẳng có giá trị gì. Người Thái mua hàng trăm tấn đá bỏ đi đó để làm gì? Câu hỏi ấy cứ vang lên trong đầu ông Cường.

    Sau nhiều năm làm “vàng tặc”, rồi “đá tặc”, có được chút vốn trong tay, ông Cường đã mua vé máy bay sang tận Thái Lan để quyết tìm câu trả lời. Hóa ra, người Thái mua những khối đá bỏ đi ấy để làm tranh đá quý, mang lại thu nhập cao cho hàng ngàn lao động. Thế rồi, hễ tích được đồng nào, ông lại sang Thái Lan, đến các làng nghề chế tác tranh đá quý, gặp các nghệ nhân để học nghề. Tuy nhiên, các nghệ nhân Thái Lan đều từ chối truyền nghề. Thậm chí, biết ý định học lỏm nghề tranh đá quý, họ không cho ông vào thăm xưởng chế tác. Không học được nghề, ông mua hàng loạt tranh đá quý về ngắm nghía, tìm hiểu. Ông đục những bức tranh này ra để xem người Thái dùng chất keo gì mà gắn chắc vĩnh viễn được những viên đá dù nhỏ li ti, mà vẫn giữ nguyên màu sắc tự nhiên của đá. Sau đúng 1.500 ngày đêm chong đèn đục đẽo, phân tích, lại gắn, lại phân tích… cuối cùng ông cũng biết được loại keo dính mà người Thái đã dùng.

    Nhưng để làm được tranh đâu phải là chuyện đơn giản. Xưa nay, ông chỉ giỏi sửa chữa tivi, tủ lạnh, quạt điện, xe máy, ôtô, rồi đào vàng, đãi đá, phá rừng, chứ đâu có biết vẽ tranh, nạm đá? Thế là lại bắt đầu công cuộc trang bị kiến thức hội họa. Một anh thợ sửa ôtô, sau một đêm thức dậy thành họa sĩ chỉ có trong những câu chuyện cổ tích. Quá trình học tập để trở thành một nghệ nhân làm tranh đá quý của ông Cường là một hành trình gian khổ không thể kể hết bằng lời. Trong quá trình học hỏi người Thái, ông nảy ra sáng kiến, thay vì làm tranh kiểu “điểm ngọc”, ông đã làm ra những bức tranh toàn bằng đá quý. Và, để có được buổi triển lãm tranh hoành tráng ở khách sạn Melia Hà Nội, ông đã phải dồn hết trí lực trong suốt 6 năm trời.

    Không thầy dạy, không phải truyền nhân, chỉ tự mày mò sáng tạo, thế nhưng, với khát vọng sáng tạo kỳ lạ, Đào Trọng Cường đã tạo ra những tác phẩm bất hủ. Nói tới dòng tranh đá quý Việt Nam, dù sau này có rất nhiều người, nhiều doanh nghiệp tham gia chế tác, song Đào Trọng Cường chính là người đã khai sinh ra dòng tranh ấy. Những tác phẩm như: Bác Hồ kính yêu, Bình minh, Ba miền, Khát vọng, Chùa Một Cột, Tranh Đông Hồ… đã làm nên tên tuổi và mang lại cho ông rất nhiều danh hiệu cao quý, trong đó có danh hiệu “Nghệ nhân bàn tay vàng”. Với ông, hai từ “nghệ nhân” danh giá hơn hai chữ “doanh nhân” rất nhiều.

    Tên tuổi nghệ nhân Đào Trọng Cường nổi đình nổi đám kể từ ngày ông làm tranh chân dung tặng các nguyên thủ quốc gia tham dự hội nghị APEC tại Việt Nam. Qua những bức tranh đó, nghề làm tranh đá quý của Việt Nam, dù vừa mới ra đời, song đã được thế giới biết đến. Đó là cách truyền bá hình ảnh đất nước ra thế giới cực kỳ sáng tạo của một người có tinh thần dân tộc cao độ.

    Với những bức tranh đẹp, được tạo ra bằng tâm huyết và đôi bàn tay khéo léo của ông, ông thường đem bán đấu giá để lấy tiền ủng hộ cho các hoạt động mang tính cộng đồng. Chẳng hạn, tác phẩm “Bình minh” bán được 21.400 USD, ông đem ủng hộ các cựu chiến binh tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ; Bức tranh “Ngày nay” bán được 9.000 USD, ủng hộ các nạn nhân chất độc màu da cam. Đặc biệt là tác phẩm “Ba miền” bán được tới 1,83 tỷ đồng, toàn bộ số tiền này ông đem ủng hộ Quỹ Vì người nghèo…

    Có thể nói, nghệ nhân Đào Trọng Cường đã nghiễm nhiên trở thành “báu vật sống” của dòng tranh đá quý trong nước. Danh tiếng nhiều, tiền của cũng nhiều, song khát vọng làm những việc động trời lúc nào cũng ám ảnh ông. Và, một sự kiện gây chú ý không những cả nước, mà cả thế giới, ấy là việc một nghệ nhân, ở một đất nước nghèo, đã dám bán phần lớn gia sản của mình đi để mua về khối ngọc Jadeite nặng 35 tấn, lớn nhất thế giới, để tạc pho tượng Phật Ngọc khổng lồ. Nghệ nhân Đào Trọng Cường luôn tâm niệm rằng, ông mua khối ngọc khổng lồ này là mua báu vật về cho đất nước, chứ không phải cho riêng ông. Khát vọng của ông là thông qua pho tượng Phật Ngọc, sẽ quảng bá được hình ảnh đất nước ra thế giới, quảng bá được nghề làm ngọc và đặc biệt, ông muốn con người Việt Nam đều thành tâm hướng Phật.
    Với khát vọng và nghĩa cử cao đẹp, ông đã vinh dự được nhận danh hiệu Anh hùng Lao động, và GS. Vũ Khiêu đề tặng ông hai câu đối: “Dồn hết tinh hoa tâm trí lại/ Bừng lên châu ngọc nước non này”.

    Làm “Chiếu dời đô” bằng ngọc bích


    Đầu xuân Canh Dần, dòng họ Đào đã lần đầu tiên họp mặt tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Tại cuộc gặp mặt này, nghệ nhân Đào Trọng Cường phát biểu: “Ơn nhờ Phúc ấm, Đức dày của tiên tổ họ Đào chúng ta đã dày công cày cấy ruộng Phúc, bồi đắp nền Nhân hàng ngàn năm nay đã để lại cho con cháu chúng ta… Họ Đào có tới 47 vị Tiến sĩ được ghi tên trong Quốc Tử Giám này”.

    Nghệ nhân Đào Trọng Cường đang chuẩn bị để hoàn tất “Chiếu dời đô” bằng ngọc bích, tác phẩm đầu tiên viết về Hà Nội của Lý Thái Tổ sau khi đi thị sát đất Đại La cùng Đào Cam Mộc, người có công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi và được triều Lý phong Thái sư Á vương sau khi ông mất.


    Phạm Ngọc Dương

  5. #5
    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    292
    Post Thanks / Like

    Mặc định

    Hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội: Người giữ lửa cho dòng gốm, sứ cổ

    Hướng tới Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội: Người giữ lửa cho dòng gốm, sứ cổ - Huong toi Dai le ky niem 1000 nam Thang Long- Ha Noi: Nguoi giu lua cho dong gom, su co - Đời sống & Pháp luật - www.do

    Nói đến dòng gốm, sứ mỹ thuật ở Hà Nội, nghệ nhân Đặng Đình Thắng được biết đến như một người "giữ lửa" cho nghề phục chế gốm, sứ cổ và gốm, sứ mỹ thuật đất Hà thành. Không ồn ào, phô trương, trong căn nhà nhỏ số 20/163 phố Tôn Đức Thắng có một lò nung vẫn ngày đêm đỏ lửa cho ra đời những sản phẩm gốm, sứ mỹ thuật được nhào nặn bởi bàn tay tài hoa của người nghệ nhân.

    Nhớ lại ngày đầu khởi nghiệp, cả Hà Nội chỉ có vài gia đình làm nghề nặn con giống bằng đất nung, trong đó có nghệ nhân Đặng Đình Hùng (đã mất), cụ thân sinh ra ông Đặng Đình Thắng. Mặc dù nghề có những bước thăng trầm, có lúc tưởng bỏ nghề do chiến tranh loạn lạc nhưng ông vẫn quyết tâm giữ lấy nghề. Nhưng nghề nặn con giống bằng đất nung rất khó tìm thợ nên năm 1980, ông Thắng quyết định sang Bát Tràng học thêm nghề làm gốm, sứ vì "sản phẩm to, dễ làm, dễ đổ khuôn".

    Không được đào tạo bài bản, trình độ mới hết lớp 7 nhưng với lòng yêu nghề ông tìm học ở các bạn nghề, học thêm ngoài xã hội và tìm đến các thầy ở trường Đại học Bách Khoa để tìm hiểu về các loại men gốm, quyết tâm theo đuổi nghề phục chế đồ gốm, sứ cổ và gốm sứ mỹ nghệ. Ông Thắng cho biết: Sản phẩm gốm, sứ gồm gốm sứ mỹ nghệ sản xuất hàng loạt và gốm sứ mỹ thuật thường sản xuất đơn chiếc. Đa số các nghệ nhân đều sản xuất gốm sứ mỹ thuật để thoả mãn niềm đam mê hơn là kiếm lợi nhuận. Dòng gốm sứ mỹ thuật sản phẩm làm ra ít lại đòi hỏi phải có sự sáng tạo và phải mất nhiều thời gian, công sức. Hiện nay, để có thu nhập cao, phần lớn chạy theo dòng gốm sứ mỹ nghệ nhưng như thế nghệ nhân sẽ không thể đào sâu sáng tác và nâng cao tay nghề lên được.

    Theo kinh nghiệm của người làm gốm, sứ: " Nhất xương, nhì da, thứ ba đốt lò". Muốn có sản phẩm gốm sứ đẹp, nước men thật màu, cái khó của người nghệ nhân là phải tìm được loại men có chiều sâu. Đó thường là các loại men cổ như lục, lam, máu bò, ngọc, trắng gốc men gio… Với niềm đam mê dòng gốm, sứ cổ truyền, ông mày mò đọc thêm các tài liệu về silicat của trường Đại học Bách Khoa, tìm đến các vùng Thanh Hóa, Phù Lãng tìm hiểu thành phần của các loại men như men ngọc, men da lươn và học hỏi công nghệ làm men của người xưa để chế tạo ra các loại men mới. Hiện anh đang nghiên cứu để chế tạo ra chất men ngọc, men trắng xanh thuộc đời nhà Minh, nhà Thanh, đặc biệt đã chế tạo ra chất men lục nhẹ lửa không thể tìm thấy ở thị trường gốm sứ Bát Tràng. Ngày xưa, các cụ làm men gio bằng cách lấy trấu trộn với bột nung lên trộn thêm đất vào thành men. Sản xuất chủ yếu bằng thủ công, vuốt bằng tay, vẽ hoa lam, hoa nâu, đun bằng lò rồng, lò bầu. Gìơ đây công nghệ sản xuất gốm sứ ít nhiều thay đổi, nghệ nhân có thể bằng nhiều cách chế tạo ra nhiều loại men mới, đun bằng ga để giảm thời gian và hạ giá thành sản phẩm, tránh ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, việc nung bằng lò bầu của người xưa thời gian nung kéo dài, gốm càng ngấu nên chất lượng sản phẩm bền, có rơi xuống sàn cũng không vỡ. Tay nghề của thợ làm gốm xưa sản phẩm có hồn hơn. Người buôn đồ cổ có cách phân biệt đồ gốm cổ thật bằng cách " nhắm mắt, sờ trôn". Đồ thật trôn thường ráp và thô còn đồ cổ rởm, đổ khuôn in giống nhau, thường trơn tru, nhẵn nhụi..

    Ông Thắng cho biết: Ông hiện đang làm đồ phục chế cuối thời nhà Minh, đầu nhà Thanh làm cho khách đặt thường là dân chơi đồ cổ và giới làm nghệ thuật. Để làm được một sản phẩm phục chế phải hiểu sâu về các loại men, men càng hiếm, càng quý càng khó nung, ví dụ như men máu bò. Mặt khác, cùng một loại men nhưng đốt trong môi trường ô xi cho màu vàng hay nước chè còn đốt trong môi trường khí lại cho men ngọc. Người nghệ nhân phải chọn hình, chọn dáng, chọn men để đưa vào sản phẩm: "màu men lục, men ngọc phải đưa vào sản phẩm có hoạ tiết chìm hoặc nổi sẽ có sự hài hòa màu sắc, men đọng vào hoạ tiết thì sản phẩm có chiều sâu sẽ đẹp hơn". 40 năm trong nghề, ông Thắng đã làm ra hàng nghìn sản phẩm vừa sáng tạo vừa mô phỏng, trong đó sản phẩm tượng phật nghìn tay, nghìn mắt đã đem đến cho ông danh hiệu nghệ nhân. Ông tâm sự: Nghề này khó, không quá kén nguyên liệu nhưng người làm nghề phải có năng khiếu, thể hiện sản phẩm phải có hồn. Giờ đây, chỉ cần nhìn men biết ngay thành phần, nhìn xương cũng biết chất liệu, thành phần men, ông Thắng muốn tìm người để truyền nghề nhưng cũng khó vì học nghề này không đơn giản, rất mất thời gian lại đòi hỏi phải có năng khiếu. Ông dự định sau này sẽ đúc rút kinh nghiệm viết thành sách để hướng dẫn những người đi sau cách chế tạo ra các loại men, quy trình đốt, kiểm tra màu men... rút ngắn rất nhiều thời gian phải mày mò cho những người làm gốm, sứ.

    Tham quan khu sản xuất gốm, sứ nằm trọn trên tầng 3 ngôi nhà đang ngổn ngang các sản phẩm gốm, sứ, mỗi sản phẩm được người nghệ nhân thổi hồn, mang dáng dấp các đồ gốm sứ cổ thời nhà Thanh, nhà Minh. Một bộ đĩa chén gốm sứ phục chế anh bán 30.000 đồng nhưng ra đến thị trường sẽ có giá 200.000 đồng. Một số sản phẩm phục chế ở đây giá cũng rẻ hơn rất nhiều so với thị trường, ví dụ bình rượu men mạc giá 150.000 đồng/cái, đĩa men ngọc, hoa văn đời Lý giá 150.000- 250.000 đồng/cái; một bộ thạp phục chế đời Lý hoa nâu giá 300.000- 400.000 đồng/bộ. Riêng bộ thạp này người mua mang về qua công nghệ làm cũ đem bán có thể có giá vài triệu đến vài chục triệu đồng. Đối với nghệ nhân Đặng Đình Thắng, thu nhập đem lại từ nghề phục chế đồ gốm sứ cổ không cao nhưng thoả mãn được niềm đam mê sáng tác. Để đóng góp cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, anh cũng đang tập trung sản xuất 1 tủ trạn bằng các mảng gốm sứ hoạ tiết nổi sẽ hoàn thành trước ngày Đại lễ.

    Điều mà nghệ nhân Đặng Đình Thắng còn trăn trở là việc duy trì và phát triển nghề gốm, sứ còn khó khăn về vốn, mặt bằng sản xuất... Theo ông Thắng, trong lĩnh vực gốm, sứ, các nghệ nhân thủ công chưa ai được phong tặng nghệ nhân ưu tú hay nghệ nhân nhân dân. Nghệ nhân làng nghề khi thành lập Hội nghệ nhân cũng thiếu sự quan tâm, nghệ nhân chỉ là một cái danh, thành lập ra Hội nghệ nhân cũng chỉ là hình thức không có địa điểm, kinh phí để hoạt động... Trong hoạt động nghề nghiệp, nghệ nhân thiếu vốn, thiếu kiến thức, cơ hội giao lưu học hỏi. Nghệ nhân hoạt động theo kiểu tự phát, được chăng hay chớ, không có các sản phẩm độc đáo mang tính hiện đại... Đặc biệt, nghề phục chế gốm sứ cổ, gốm sứ nghệ thuật đang đứng trước nguy cơ thất truyền khi những nghệ nhân còn lưu giữ bí quyết nghề này không còn nhiều, phần lớn đã bước sang tuổi xế chiều trong khi đó, đội ngũ kế cận lại đang thiếu trầm trọng và tay nghề chưa cao.

    Tuyết Mai

Những nghệ nhân đất Thăng Long xưa và nay

Đánh dấu

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
.::Thăng Long Kỳ Đạo::.
  • Liên hệ quảng cáo: trung_cadan@yahoo.com - DĐ: 098 989 66 68