Hành trình trở về Vô Cực rất đơn giản, khi đã có, tức là xử dụng được Bát Quát, Ngũ Hành, Thái Cực, ta bắt đầu lìa bỏ cho đến khi không còn gì để học cái Không.

Thường ta chỉ chú ý tới cái Có mà không chú trọng tới cái Không. Một căn nhà sẽ chẳng phải là căn nhà nếu nó không có khoãng trống bên trong, cũng như cái cửa sổ sẽ chẳng thành hình nếu không có khoảng trống trên tường. Thử nghĩ nếu không ăn hay không thở thì ta sẽ không thể sống được. Hoặc một bản nhạc chỉ toàn là nốt từ đầu đến cuối mà không có những lúc yên lặng, nó cũng sẽ không phải là bản nhạc.

Mức quan trọng của cái Không chẳng kém gì cái Có, thật ra nó đã bám sát cái có trong vũ trụ từ nguyên thủy. Một căn nhà đầy chật đồ đạc làm ta nghĩ là nó không có khoãng trống, nhưng thật ra sự hiện diện của nó đã ở đó tự bao giờ. Chỉ cần bỏ đồ đạc ra là khoãng trống tự xuất hiện, ta không cần phải bê nó vào. Vậy Có (sắc) và Không đi đôi với nhau như hình với bóng, vì chúng chính là cặp Âm Dương. Ta được biết Âm là Dương ở trạng thái tĩnh, Dương là Âm ở trạng thái động, ngày nay khoa học cũng tuyên bố không khác, năng lượng (energy) là vật chất (matter), và vật chất là năng lượng. Do đó, cặp Có Không tuy có cùng một bản chất nhưng ở hai trạng thái khác nhau.

Phật gia cũng đồng một quan điểm khi nói "sắc sắc không không". Sau khi thấu triệt về sắc (có/ thí dụ như tứ đại: đất, nước, lửa, gió), họ quay qua học cái Không. Khi đã thấu đáo ý nghĩa của Sắc và Không, và chẳng còn bị chúng chi phối, tức là lúc trí tuệ (bát nhã) đã khai mỡ, họ mới có thẩm quyền để nói "sắc tức thị không, không tức thị sắc" (sắc là không, không là sắc).

Ta đã biết khi lùi về Vô Cực tức trở về cái gốc sinh ra vạn vật; hay nói một cách khác ta trở về chổ Không để Có. Cái Có này không phải cầu mong mà được, nó là cái Có tự nhiên, khác với cái Có (đối với cái không) của Âm Dương, của lý trí. Ðể có khái niệm về cái Không sinh ra vạn vật, ta nhận xét một cây cổ thụ to lớn từ một hạt nhân bé nhỏ, mà khi bổ hột ra thì bên trong nó trống rỗng, không có gì.
Những gì đã học, thấy, nghe qua đều in trong tiềm thức, bởi vậy khi nói buông bỏ không có nghĩa là sẽ xóa hết sạch. Khi về đến Vô Cực (Không), theo lối nhìn đã đề cập ở trên, ta sẽ trở lại trạng thái thơ ngây như xưa. Như xưa nhưng vẫn khác xưa. Chẳng hạn như có một thanh niên để lòng yêu mến một thiếu nữ. Một lần trong mộng anh đã gặp gở và chuyện trò vui vẽ cùng cô. Sáng hôm sau dĩ nhiên là không có gì từng xảy ra cả, con người anh tối hôm qua và con người anh hôm nay là một. Tuy là một, không có gì thay đổi, nhưng vẫn có sự khác biệt.

Tiếp tục các câu vấn đáp truy về gốc: Vô Cực gốc ở đâu?
-Vô Cực không có gốc.

Ta đã từng thấy tấn Thiếu Lâm, Hồng Gia, vv...đều bị hất đổ, ngược lại tấn Vô Cực lại không hề hấn gì. Vì nó không dấu Thái Dương hay Thái Âm mà chỉ lơ lửng không bám trụ vào đâu cả (hư linh đỉnh kình), có thể ví như không có gốc. Vì không có gốc nên không có chuyện bật gốc, không bật gốc thì không đổ. Vấn đề này được kinh Dịch làm sáng tỏ qua hai quẻ Ký-Tế (số 63, hoàn tất) và quẻ Vị-Tế (số 64, chưa xong). Các tấn khác đứng thật vững chắc theo tượng quẻ Ký-Tế, nghĩa là mọi thứ đều ở đúng vị của nó, không có gì sai lệch. Nhưng vì tất cả đâu đã vào đấy, như cái cân đang ở trạng thái quân bình hoàn hảo thì chỉ cần thêm bớt nhẹ cũng đũ khiến nó nghiêng lệch mất thăng bằng. Trong khi tấn Vô Cực bấp bênh mỏng manh theo tượng quẻ Vị-Tế - việc còn dở dang chưa xong. Chưa xong có nghĩa là sẽ xong chứ không phải không xong. Bởi vậy va chạm nó hóa ra lại thêm vào cho nó được đầy đũ giúp nó tạo thế quân bình dễ dàng.

Không có ý chống trả của Vô Cực khác với sự tiến lùi theo đối phương như còn ở cấp độ Thái Cực. Lấy pháp Chủ Tế làm thí dụ. Một ứng dụng của nó là nghe nặng ở đâu rót sức nặng về chổ đó, nên thấy có vẻ như giằng co vận sức. Khi bị kéo, thay vì bước tới trước nhượng theo theo lực đối phương, nó lại bật người ra sau theo tư thế Chủ. Và nó đổ người tới trước, Tế, thay vì lùi lại khi bị đẩy.

Pháp Chủ Tế cùng với vài đặc điểm sau đây biễu hiện những khía cạnh nghịch với thế thường của Vô Cực.

Ngoài 'trọng quyền khinh tấn', một lỗi lầm nữa là quyền cước, ta chỉ lo phát ra mà không chú ý đến sự thu về. Căn cứ theo luật quân bằng của Âm Dương, đi và về bắt buộc phãi quan trọng ngang nhau. Tuy nhiên, cao thủ Vô Cực, không còn trong vòng ảnh hưởng của Âm Dương, nhiều khi có đi mà không cần về - nếu không hiễu, sẽ cho rằng họ vi phạm qui tắc sơ đẳng này. Ðối với họ, một khi quyền cước đang ở địa phận đối phương, không có lý do gì phải thu về nếu chưa giãi quyết xong. Họ không cần khoãng cách để tạo ra lực. Họ dư sức chấn thương đối phương qua những động tác nhỏ tinh diệu, với sự di động tối thiểu.

Sự hỗn độn của cao thủ Vô Cực khi lâm trận cũng là một đặc điểm. Tay chân họ lúng túng vụng về, đi đứng nghiêng ngã loạng choạng, không chiêu nào ra chiêu nào (điển hình là môn Túy Lúy Quyền). Trông họ như kẻ nữa điên nữa say, còn kém hơn cả các môn sinh mới nhập học chưa biết gì về thân thủ bộ pháp. Ðúng ra họ không còn trụ vào chiêu thức nữa, nên gọi là vô chiêu. Vô chiêu không phải là không có chiêu thức. Mọi động tác của họ đều nằm trong các dạng Ngũ Hành, Bát Quái,vv..., chỉ vì chúng nhuộm màu Vô Cực, quá sức vi tế nên khó nhận ra hình tướng chúng. Ở trình độ của họ, đi đứng nằm ngồi, tay chân dù ở tư thế nào cũng là võ cả. Nghệ thuật của họ được mô tả là "sự khéo léo quá mức dường như vụng về".

Nghe một bản nhạc cổ điển hiện đại (modern classical) nhiều khi thính giả không biết đầu đuôi nó ra sao, bắt đầu ở đâu, hết lúc nào. Cả bài giống như một đống nốt lộn xộn, âm giai chói tai, nhịp điệu hỗn loạn...Cứ tưởng bản nhạc được viết trong lúc đầu óc người nhạc sĩ không được bình thường, nhưng nếu ta vạch bõ lớp cành lá có vẽ vô trật tự ở trên, thì thấy nó vẫn không ra ngoài khuôn khổ âm luật.
Hoặc một y sĩ châm cứu siêu đẳng sẽ làm mọi người lạnh xương sống, vì những mũi kim bậy bạ, không theo đúng bộ vị huyệt đạo của vị y sĩ này. Ðiều ta không ngờ được là, khi nắm được nguyên lý của tiểu và đại vũ trụ, cắm kim ở đâu thì chổ đó là huyệt.

Bậc hiền nhân quân tử và kẻ nham hiểm đại ác thường có những thái độ giống nhau. Chữ viết thão của nho sĩ thấy không khác nét nguệch ngoạc của kẻ mù chữ.
Qua những nhận xét kể trên, ta thấy bất cứ nghành học nào, cấp bậc sơ đẳng và mức độ thượng thừa - ở đầu hai cực - sẽ có những nét tương tự như nhau. Sự kiện này cũng khiến ta liên tưởng đến câu phương châm "zen" rất quen thuộc, "ban đầu núi là núi, sau đó núi chẳng phải núi, và cuối cùng núi là núi".

Trước câu hỏi về Vô Cực, cư sĩ Duy-Ma-Cật trả lời bằng sự lặng thinh. Khi mở miệng nói đến Vô Cực tức là đã tự mâu thuẩn rồi vậy. Sự mâu thuẩn phát sinh ngay khi chúng ta mới bắt đầu trên con đường về Vô Cực. Ta phải từ bõ thay vì góp nhặt, phải nghĩ mình yếu, dở, thay vì nghĩ mình mạnh, hay,v.v...Việc khó khăn hơn nữa là không cầu mong ngay cả sự thành đạt Vô Cực, như Phật gia có câu "vô sở cầu vô sở đắc". Vì khi cầu mong tức là ta nhắm vào một mục tiêu nào đó để đạt đến, và như vậy trong trường hợp này ta đã đặt mức giới hạn Vô Cực lại rồi. Vậy Vô Cực cũng chỉ là một ý niệm cần phải buông bõ như tất cả những ý niệm khác. Vạn pháp đều huyễn[Ỵ]. Ta nắm lấy một pháp để loại trừ tất cả các pháp khác, để rồi cuối cùng chính nó cũng phải bị vứt bõ. Ðã đến ngưỡng cửa mà chỉ đứng đó trầm trồ thì sẽ chẳng bao giờ biết được bên trong ra sao. Vì cánh cửa mở đấy mà cũng đóng đấy.

Ta hãy nghiền ngẫm câu chuyện sau đây do sư tổ truyền kể lại :
Có người học nghề đồ gốm đã lâu mà vẫn chưa nặn được một cái bát, cái bình nào cho tròn (còn bị vướng bận trong Âm Dương). Mãi đến một hôm, vì không chú tâm cố ý trong việc làm, bất ngờ anh ta hoàn thành được một cái bát tròn hoàn hão (không có ý thêm bớt nên thoát khỏi Âm Dương, đạt đến Vô Cực). Mừng rỡ, anh vội mang cái bát đi khoe sư phụ. Hốt nhiên vị thầy rút búa đập vở tan cái bát. Anh học trò ngẫn người ngạc nhiên, rồi sau đó khuôn mặt anh bừng sáng với nụ cười thức tỉnh.

Xin tổng kết sự mâu thuẫn, đơn giãn của Vô Cực như sau. Ta xông tới tấn công với những chiêu thức dũng mãnh, đường quyền vũ bão, nhưng Vô Cực chẳng buồn né tránh hay đở gạt, nó thãn nhiên đưa tay chộp cổ ta và cười khà khà .

Ngày nhập môn Vô Cực Công, theo thông lệ, sẽ có cuộc đối thoại giữa sư phụ với từng môn sinh. Qua các câu hỏi, thầy sẽ quậy khởi các thứ tình cảm trong con người anh học trò. Mục đích là hướng môn sinh nhìn vào trong để giúp anh mường tượng - việc mà bình thường ít ai thắc mắc để ý - cái Tôi đó là gì. Ðây là bài học thứ nhất của Vô Cực Công.
Vô cực vốn không phân , Thái Cực sinh Lưỡng Nghi , Ma Vân Thủ sao có thể ? Vô chiêu có thế , vô thế cho chiêu ? Hóa chiêu thành thế là đạo ắt thắng . Hóa chiêu đổi thế là đạo quyết thắng .
Và một ngày kia, ta sẽ chẳng còn bận tâm đến chấp xã hay thành đạt