Kết quả 1,481 đến 1,490 của 1510
Chủ đề: Cà phê Đen
Hybrid View
-
03-02-2014, 03:21 AM #1
Nhất ông abnj Kiếm gỗ.Anh em nào chưa vợ mà kiếm đc cô vợ nào = cô vợ kiếm gỗ thì chuẩn
Bình tĩnh tụ tin không cay cú
Âm thầm nhẫn nhịn chờ trả thù !
-
03-02-2014, 01:05 PM #2
Cô Hanh đừng có bi quan làm chi. Anh Kiem Go nhà cô trông chất phát hiền lành thế kia mà còn phải nghĩ ngợi gì nữa. Có những người đàn ông lãng mạn thường ôm cây đàn ( như là ông CKD thì phải
) lựa lúc Trăng lên ngồi bên hiên nhà đón Gió cũng không sao. Bà Chủ Quán Cơm cứ mang theo bình trà ra ngồi với ổng rồi ca bài Chàng đàn Thiếp ca là tuyệt. Chiêu này không mới mẻ cho lắm nhưng công dụng, công dụng.
Cầm lên được tất bỏ xuống đươc.
-
02-02-2014, 04:13 AM #3
Thơ cô Hanh là dành riêng cho người thứ BA đấy ư? Rất cao thượng. Thông thường lòng tham con người sẽ làm cho họ mờ đi lý trí, cũng như tình yêu đã làm giảm mất 1 phần thông minh của con người.
Cầm lên được tất bỏ xuống đươc.
-
02-02-2014, 04:15 AM #4
Tại sau mấy chuyện như vầy quá thường xảy ra đối với VN ?
Anh có thể biết tôi, tạm gọi là vậy, qua ngọn gió trên đồi
Anh sẽ không biết tôi bằng danh xưng nào khác.
You can know me, if you will, by the wind on the hill
You'll know me by no other name.
(No Other Name - Peter, Paul and Mary)
-
02-02-2014, 10:18 AM #5
Tặng ông Gió và ông Tý .Hai bề trên tôi rất ngưỡng mộ vì tình yêu vợ .Nhất là ông Gió leo núi nghìn trùng cũng có đôi bước ra khỏi cửa vài bước xông đất cũng một cặp .Chân thành cảm phục !
Thơ Trần Tế Xương (thường gọi là Tú Xương, 1870-1907) rất đa dạng về cảm xúc, như người ta nói “khi cười, khi khóc, khi than thở”. Ông tự trào mình thuộc số đàn ông chỉ có thể làm “quan tại gia”, chỉ có thể sống bằng “ăn lương vợ”. Cái chất tự trào ấy nghe ra ngậm đắng nuốt cay với một người đàn ông nguyên vẹn sức lực, trí tuệ không kém người, nhất là cái chí tang bồng đâu đã phôi pha. Cái điệu cảm thán thương mình, thương người thấm thía trong thơ Tú Xương. Thương vợ là một bài thơ chứa chất đầy tâm sự
“Quanh năm buôn bán ở mom sông/
Nuôi đủ năm con với một chồng/
Lặn lội thân cò khi quãng vắng/
Eo sèo mặt nước buổi đò đông/
Một duyên hai nợ âu đành phận/
Năm nắng mười mưa dám quản công/
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/
Có chồng hờ hững cũng như không”
. Điệu thơ trầm buồn khi người đàn ông vốn được coi là trụ cột trong gia đình, vì một lý do nào đó, không còn là “trụ cột” nữa, rơi xuống địa vị thứ yếu, phụ thuộc. Có cái gì đó thật tủi phận, đắng đót của kiếp người nhỏ bé. Câu kết bài thơ như là một lời tự giễu cợt của thi sĩ khi cảm thấy mình bất lực trước những bất công của đời sống.
Nhớ vợ của Cầm Vĩnh Ui (in trong Tuyển tập Thơ Việt Nam 1945-1954, Nxb Giáo dục, 1995) là một bài thơ rất độc đáo nhưng ít người biết đến, nó đã từ lâu dường như bị lãng quên vì một lý do nào đó không thật rõ ràng. Đọc lại bài thơ này trong cái không khí nhộn nhạo của đời sống hiện sinh thời bây giờ, bỗng có cái cảm giác trở về nguyên sơ, nguyên thủy, nguyên lành của cảm xúc thật của con người
“Tôi nhớ vợ tôi lắm/
Xin anh về hai ngày/
Nhà tôi ở Mường Lay/
Có con sông Nậm Rốm/
Ngày kia tôi sẽ đến/
Lại cầm súng được ngay/
Tôi càng bắn trúng Tây/
Vì tay có hơi vợ/
Cho tôi đi đừng sợ/
Tôi không chết được đâu/
Vì vợ tôi lúc nào/
Cũng mong chồng mạnh khỏe/
Cho tôi đi anh nhé/
Về ôm vợ hai đêm/
Vợ tôi nó sẽ khen/
Chồng em nên người giỏi/
Ngày kia tôi về tới/
Được đi đánh cái đồn/
Hay được đi chống càn/
Là thế nào cũng thắng/
Nếu có được trên tặng/
Cho một cái bằng khen/
Tôi sẽ rọc đôi liền/
Chia cho vợ một nửa”.
Đây là lời trần tình của một người lính sinh ra ở rừng núi, tất cả còn nhiều bản năng sống “Cho tôi đi anh nhé/ Về ôm vợ hai đêm”. Rất thật, rất người vì thế cũng rất đáng yêu. Nhưng cũng từ khi tham gia Vệ quốc quân, cái nhãn quan của anh được mở rộng, vụt lớn lên về ý thức, tình cảm. Cái riêng và cái chung trong bài thơ này hòa quyện và nhuần nhuyễn, phô được vẻ đẹp hồn nhiên của con người cầm súng chiến đấu.
Nếu không nhầm thì hình như chỉ có độc nhất Nguyễn Duy là nhà thơ đã chăm chút in hẳn một tập thơ tặng người vợ hiền thảo, nhan đề Vợ ơi (1995). Người vợ có một vị trí quan trọng, trang trọng và có thể nói là rất sang trọng trong thơ Nguyễn Duy. Nhưng độc giả yêu thơ ông vẫn thích nhất bài Mời vợ uống rượu (1993)
“Mỗi năm Tết có một lần/
Mời em ly rượu tay nâng ngang mày/
Vợ cười chưa uống đã say/
Ngọt ngào thì nổi đắng cay thì chìm/
Gót chân ăn vẹt bậc thềm/
Quanh năm tất bật đi tìm ngày xuân/
Tóc loay hoay bạc bạc dần/
Mỗi năm Tết có một lần thôi em”.
Mời vợ uống rượu mà tay nâng ngang mày thì biết là người chồng kính trọng, trân trọng, yêu quý vợ biết nhường nào. Phải sống nhiều, sống có trách nhiệm và tình thương mới nhìn thấy được gót chân ăn vẹt bậc thềm. Một hình ảnh thơ thấm đẫm nghĩa cử của con người, của tình nghĩa vợ chồng chẳng cần thề bồi mà vẫn sống với nhau đến đầu bạc răng long. Phải sống với nhau thật lâu mới cảm hoài được cái dáng vẻ, cái màu sắc tóc loay hoay bạc bạc dần của người vợ hiền. Có lẽ người chồng bỗng nhiên giật thót mình khi nhìn mái đầu vợ, tóc đã qua thời điểm sương, lấn tới cái đoạn già cả. Mái tóc nói được rất nhiều điều như cái nhìn dân gian “hàm răng mái tóc là góc con người”. Nhưng như vượt thoát nhanh nỗi ám ảnh đó, nhà thơ biết cách làm cho mình và người khác quên đi cái già sầm sập đến, để vui cái vui của ngày Xuân, ngày Tết vì mỗi năm Tết có một lần thôi em. Một lần vui thôi trong một năm, vậy hà cớ gì mà băn khoăn, vậy hà cớ gì mà không quên đi một nắng hai sương để thụ hưởng cái khoảnh khắc hạnh phúc hiếm hoi này. Lời mời chào của nhà thơ với vợ thật khéo léo, khó bề từ chối.
Nhà thơ Bùi Hoàng Tám nổi tiếng với cái triết lý “Vợ duy nhất đúng”. Ngẫm cho cùng đó là một cách nói quá đi để bộc lộ cái tình cảm sâu nặng của những đức ông chồng với người vợ hiền thảo từ xưa tới nay. Mình ru vợ mình là một bài thơ rất vui nhộn
“À ơi…!/ Mình ngủ đi mình/
Đã hây hẩy gió, đã tành tạnh mưa/
Nhà ta công sớm việc trưa/
Nhỏ to, lớn bé cũng chờ mình thôi/
Áo mình đầm đậm mồ hôi/
Tóc mình thoang thoảng hương trời còn bay/
À ơi…!/ Anh gối đầu tay/
Anh hôn lên mái tóc dày đầm sương/
Ngủ đi em, ngủ yêu thương/
Ngáy đi em, ngáy rung giường cho vui/
Xóm làng ơi, đất trời ơi!/
Xin yên lặng nhé. Vợ tôi đang… khò!”.
Nhiều người thích cái sắc lẻm và khí khái của một Bùi Hoàng Tám – nhà báo. Nhiều người thích thơ anh vì cái chất yêu đời, vui sống, như ai đó nói rất “nhộn nhịp”, nhưng không hề kém thâm hậu. Chồng ru vợ, nghĩ cho cùng cũng chẳng ngược đời trong một xã hội bình đẳng giới. Có thể hình dung trước đó người vợ vừa dỗ dành, ru con ngủ, xong rồi thì có chút thao thức, có chút nũng nịu với chồng chăng? Phải là người chồng tinh tế mới lập tức hiểu ra sự tình và lập tức cất tiếng ru… vợ ngủ. Có gì đâu mà phải che đậy, có gì đâu mà phải xấu hổ khi mình ru vợ mình ngủ. Người ta khi ngủ ai cũng trở nên hiền lành, dễ thương. Với trẻ em thì “như búp trên cành” nên cần “biết ăn ngủ biết học hành là ngoan”. Còn vợ là người lớn, thì sao đây mới là ngoan? Thì rõ ràng là phải “ngủ yêu thương”. Bài thơ kết bằng tiếng cười rất…hỉ xả “Xóm làng ơi, đất trời ơi/ Xin yên lặng nhé. Vợ tôi đang… khò!”. Chẳng ai kết tội nhà thơ suồng sã trong trường hợp này. Nó là một sự phóng chiếu thường tình, nó làm cho tâm hồn ta trong sáng và nhẹ nhàng hơn, vì như ai đó nói chí lí, tiếng cười tử tế linh diệu như một “phép vệ sinh tinh thần”.
-
02-02-2014, 02:56 PM #6
Hôm nay đọc mấy bài thơ của bác Lâm sưu tầm lại ngộ thêm 1 điều nữa nơi cuộc sống. Thì ra câu nói Nhất Vợ Nhì Trời cũng có cái lý của nó. Chỉ là ai trong số chúng ta sẽ mãi mãi tâm niệm với câu trên. He he, các đức ông chồng khi có chút tiền dư của để mà một lòng chăm chút đến Bà Chủ Cơm Tháng thì được quá rồi. Nhưng có ông lại thích ăn Phở để rồi có ngày Phở nó ăn ông thì đừng có mà phàn nàn trách ai. Tuy Phở có nhiều nước béo nhưng béo quá không chắc đã tốt.
Ở nhà ăn bánh lọt ( hay bánh canh ) cũng ngon vậy. Hi hi..


Lần sửa cuối bởi Aty, ngày 02-02-2014 lúc 02:59 PM.
Cầm lên được tất bỏ xuống đươc.
-
02-02-2014, 07:29 PM #7
Chuẩn đấy bạn già , biết đủ dùng thôi , biết hết chán chết .
P/s : Topic đã được 150 trang ( quá quy định đến 50 trang rồi ) , chủ thớt lập topic 2 nhé , cám ơn !!!CÓ CHỖ ĐỨNG , CỨNG CHỖ ĐÓ
Đăng Ký tham gia Học cờ trực tuyến - Học cờ online - Cơ hội nâng cao kỳ nghệ cùng kiện tướng quốc gia Vũ Hữu Cường , Bình luận viên kiêm nhà tổ chức Phạm Thanh Trung :
CHAT ZALO : 0935356789

Website học cờ trực tuyến : http://hocco.vn/
Link hướng dẫn : http://thanglongkydao.com/threads/10...993#post582993
-
02-02-2014, 10:14 PM #8
Hehe, ở đây toàn là những người đàn ông tuyệt vời thôi chị cuonghanh ạ
Rũ áo phong sương trên gác trọ.
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.
-
03-02-2014, 12:13 AM #9
Good Morning to All

Năm mới kính chúc quý bác, cùng quý anh em gần xa, một năm "Mã Đáo Thành Công" trên mọi lãnh vực. Chúc toàn thể đại gia đình TLKD vạn sự cát tường, toàn gia hạnh phúc.
Happy New Year !Người vô minh không phải là người không có tri thức mà là người không biết chính mình.
- Krishnamurti -
-
03-02-2014, 01:50 AM #10
Hôm nay uống rượu say tít mù .Chợt nhớ cô Hạnh đang ngồi chờ ông kiemgo đi đánh bạc về .Tìm một bài hay hay đầu năm cô đọc cho đỡ buồn .Mong cô có tí phút giây thoải mái với khí hậu lạnh lùng miền Tây Bắc

Bưu thiếp Bắc Nam.
Mấy tuần trước, tôi ngạc nhiên, nhận được gói bưu phẩm có hai cái găng tay len và dòng chữ viết nắn nót “From the bottom of the sender’s heart: Wish you warmth! – Từ đáy lòng, chúc anh giữ cho ấm” vào đúng những ngày đông băng giá -15 oC giữa DC. Có lẽ đến cả thế kỷ mới thấy có người viết nhắn bằng mẩu giấy cho mình, lão Cua già cứ nghĩ mãi, chẳng hiểu ai gửi, cảm ơn trên mạng vậy

Nhớ lần đi công tác Singapore gần vào dịp cuối năm, ăn sáng ở khách sạn Crown Plaza trong sân bay Changi, tôi thấy một thiếu phụ phương tây, dáng quí phái, hý hoáy viết những bưu ảnh. Lâu lắm tôi mới thấy chuyện lạ này. Tôi hỏi chị, sao không dùng email cho tiện. Chị cười, không có thứ IT nào có thể thay thế tình người được viết từ ngòi bút.
Dễ đến mấy chục năm, tôi không còn viết thư tay hay bưu ảnh nữa. Một phần do yên bề gia thất, phần do công việc, một phần do internet với email, chatting, đã làm cả nhân loại trong đó có cả tôi, quên đi những bức thư viết bằng mực trên trang giấy trắng.
Thời của cha mẹ tôi sống xuyên thế kỷ trước thì thư gửi qua bưu điện là thứ duy nhất để trao đổi với người ở xa. Với giá vài xu đến 1 hào 2 một cái tem và phong bì, nhưng cũng vài tháng nhận một lần. Đó là thứ tình cảm vô giá, khó mà đong đếm, mang lại niềm vui cho cả người không biết chữ.
Hồi xưa (1960), cạnh nhà tôi là cái phòng thu thuế của huyện Gia Khánh (nay là Hoa Lư) ở ngã ba sông Chanh và sông Hoàng Long. Có anh Thiệu, người Nho Quan, và anh Lê Văn Rập, người Bình Định, chuyên thu thuế dân buôn bán trên sông.
Cha mẹ tôi rất thân với các anh nên đi đâu công tác xa, hai anh đều viết thư rất dài, kể chuyện đủ thứ trên đời. Anh Rập mê chị Tuyết nên viết trên giấy pơ luya hồng, chữ nắn nót, toàn xưng con với hai bác, dù anh chỉ kém cha mẹ tôi khoảng chục tuổi. Anh hay cho chúng tôi xem những bưu thiếp Bắc Nam viết ngỏ để nhà dây thép (bưu điện) kiểm duyệt. Một bên là người gửi, bên kia là người nhận “Em và các con vẫn ổn. Mong ngày thống nhất”.
Anh Thiệu viết trên giấy học trò kẻ ly, cũng chỉ chào anh chị, nhắc cho các cháu học, nhất là thằng Thế đốt đống rơm, nó có vẻ thông minh nhất nhà. Đừng bắt chúng thôi học mà tội nghiệp.
Cả nhà thích nhất là thư vào dịp tết, các anh hay gửi có cái bưu ảnh có hoa đào, đôi khi là tháp Rùa vẽ trên vải lụa, phía sau là mấy chữ chúc mừng năm mới, rất sang trọng. Chị Tuyết lấy tất các bưu ảnh, giấu đi, xem một mình.
Bố mẹ tôi cũng chỉ viết được vài câu “Kính gửi anh Rập, anh Thiệu. Chúc tết các anh. Nhớ về ăn tết với gia đình”, rồi bảo con dán tem gửi đi. Bố tôi cất kỹ những lá thư trong cái ống bương cùng với giấy khen của trường của các con, kể cả giấy khai sinh, gác trên mái nhà, sợ chuột gặm. Lúc rỗi, ông già lại mang ra lẩm nhẩm đánh vần những bức thư.
Dì Nhuận là em của mẹ tôi, chả hiểu sao lại lấy chú Nhuận ở mãi tận Sơn Tây. Những năm 1960, nhà chú dì ở Hà Nội, tôi chẳng có dịp ra đó bao giờ. Nghe nói chú dì ở phố Khâm Thiên. Sau này sơ tán về Hưng Yên (1969), tôi ra thăm. Qua Hà Nội lần đầu, biết được ánh đèn điện sáng choang và tầu điện leng keng chỗ ga Hàng Cỏ.
Chú dì ăn lương nhà nước, nuôi bốn đứa em ăn học, ít khi đủ tiền về quê. Mỗi lần về thăm các bác, các cậu, các mợ, đi khắp làng trên xóm dưới, chỉ cần quà cho mỗi người một gói bích qui và một đồng mừng tuổi, thì cả năm lương tiết kiệm cũng đi tong. Sau này lớn lên, đi công tác nhà nước, lương ba cọc ba đồng, tôi mới thấm hiểu.
Những năm 1960-1970, cứ gần đến Tết, mẹ tôi lại ngóng thư dì Nhuận. Cứ vào dịp năm mới, thế nào chú Nhuận cũng viết lá thư dài “Vợ chồng em cũng tằn tiện qua ngày, cháu Bình đã lớn, sắp vào cấp 3. Cháu Sơn dễ phải đi bộ đội.” Rồi cuối thư, chú không quên “gửi lời nhớ nhung, yêu thương anh chị và các cháu”.
Mẹ bắt tôi đọc đi đọc lại hàng chục lần cho cả nhà nghe, rồi cụ thở dài, nghe chữ “tằn tiện” chắc làm cán bộ cũng nghèo, chả hiểu chú dì có bánh chưng cho các cháu ăn không. Cụ lấy cái cơi trầu, đựng tất cả thư từ của chú dì vào đó.
Sau này tôi đi nước ngoài, tháng tháng viết thư cho cha mẹ. Thư đầu dài, sau ngắn dần, rồi chỉ còn bưu ảnh vài chữ, con đến biên giới nước Tiệp, con đang ở Thiên An Môn, con đang đi tầu điện ngầm Moscow. Bố mẹ giữ tất cả, cho vào một cái hòm gỗ và khóa lại. Thỉnh thoảng nhớ con lại mang ra lẩm nhẩm. Cụ dặn, lần sau con viết chữ to vào nhé, dạo này mắt bố kém rồi, mẹ cũng không tinh nữa.
Anh Kế đi bộ đội năm 1968 khi mới 17,5 tuổi. Cha mẹ tiễn con, chỉ dặn được mỗi một câu, con đi nhớ viết thư về nhà, đừng để cha mẹ mong. Những tháng đầu, tuần nào cũng có thư, rồi anh còn về thăm bố mẹ trước khi đi chiến trường B. Trông anh cao lớn đẹp trai, cả nhà rất vui. Nhưng nghĩ anh đi vào chiến trường, chẳng biết thế nào.
Còn nhớ đúng vào dịp đầu xuân như thế này, anh Lâm và tôi đi gặp anh đóng quân ở nông trường Đồng Dao, cách nhà 30km. Hồi đó phải đi bộ mới tới nơi. Trông anh mũ xanh, sao đỏ trên mũ, quần áo xanh, vác AK, rõ là người lính chững chạc.
Nắm tay em, anh chỉ dặn mỗi một câu, em nhớ ở nhà học hành, đi Nam không biết thế nào.
Chỗ nào dừng chân nơi đóng quân, anh cũng gửi thư về. Mẹ khóc, thế là thằng Kế vẫn còn. Cho tới một hôm, lá thư cuối cùng được gửi từ Quảng Bình. Từ đó, không còn lá thư nào nữa. Người mẹ ấy đợi thư con cho đến lúc nhắm mắt, mong có sự kỳ diệu nào đó, con bà vẫn còn sống.
Dù biết tin báo tử của anh trai, nhưng mẹ tôi cứ mở thư con ra đọc hàng đêm dưới ngọn đèn dầu trong ngôi nhà ở mom sông, khóc cho đến lúc không còn nước mắt. Một lần về quê, tôi đem đốt hết thư từ trong cái hòm gỗ, cả tập thư của anh Kế, của chú gì và của mọi người, chỉ mong cụ nguôi ngoai nỗi nhớ con. Bây giờ thấy tiếc vô cùng những kỷ niệm.
Nhớ khi tết về, mẹ tôi lại nhắc, anh nối điện thoại cho mẹ nói chuyện với chú dì Nhuận, hiện ở Vũng Tầu. Rồi lâu lâu cụ lại hỏi thăm, chẳng hiểu anh Thiệu và anh Rập có còn sống hay chết rồi. Sao con lại đốt thư anh Kế, mẹ nhớ nó lắm. Bây giờ chẳng còn ai viết thư cho mẹ nữa nhỉ, mẹ vẫn đọc được mà, ngày tết không có thư chú dì Nhuận, thấy buồn hơn.

Thư có từ thời Hy Lạp, Ấn Độ, Roma hay Trung Hoa cổ đại cách đây mấy ngàn năm, viết trên giấy, trên đá, đô khi là thẻ tre, gửi theo đường người đưa thư đi bộ, bằng ngựa, bằng xe hơi và cả máy bay, có cả trong trường ca Iliad và Homer ở thế kỷ 8 trước Công nguyên.
Thời Internet, chỉ trong giây lát, kiểu thư đã khác. Vài cú gõ bàn phím, bạn đã có một bức thư gửi đi cho người thương ở bên kia trái đất. Chưa kể Yahoo Messenger, Google Chat, Windows Chat giúp cho hàng tỷ người trên hành tinh xích lại gần nhau sau cái nhấp chuột.
Hôm nay ngồi ở văn phòng vắng lặng khác thường, đúng ngày mồng một Tết ở DC, tự nhiên tôi thấy buồn khác lạ. Hai thân không còn trên trái đất để mong thư của người ở xa, chú dì tôi đã gần đất xa trời, chắc chẳng còn nhớ những bức thư xưa.
Tôi băn khoản tự hỏi, không biết xuân này có bao nhiêu bạn nhận được những bức thư qua đường bưu điện thay vì những email nội dung giống nhau. Xã hội hiện đại với internet toàn cầu đã cuốn trôi biết bao giá trị mà lẽ ra cần phải giữ lại.
Đọc kỹ tờ giấy nhỏ hồng hồng, có vài chữ viết “From the bottom of the heart…”, thấy ấm lòng giữa băng tuyết DC. Và tự nhiên tôi tin, dù có Yahoo, email nhanh trong chốc lát, skype, video trực tiếp, hay bao tiện ích khác mà thế giới ảo mang lại, thì không có thứ IT nào có thể thay thế được những lá thư tay, một thời là mối liên kết ruột thịt Bắc Nam và tình người của những người nông dân Việt ít chữ ở thế kỷ trước, đúng như người phụ nữ quí phái phương Tây ở sân bay Changi đã nói.
Cà phê Đen






Đánh dấu